TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/HS-ST
Ngày 25-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lý Minh Quý;
- Giàng A Vư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng tại điểm cầu trung tâm, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2024/TLST-HS, ngày 27 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý A P, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 08/8/1968, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Lý A G, đã chết; mẹ đẻ: Sùng Thị P1, đã chết; vợ: Giàng Thị L, sinh năm 1969; bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1987; con nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án số: 24/2016/HSPT, ngày 22/3/2016, của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu, áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), xử phạt Lý A P 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 07 năm tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/6/2021, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay. Bị cáo tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, tại Trại Tạm giam Công an tỉnh L, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 00 phút, ngày 11/3/2024, tại bản Căn Chu D, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, Công an xã M bắt quả tang Hảng A D1, sinh năm: 1994, trú tại: bản S, xã M, huyện P và Chang A, sinh năm: 1977, trú tại: bản C, xã M, huyện P, về hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,64 gam. Chang A V khai nhận mua gói Heroine của Lý A P với số tiền 300.000 đồng (số tiền này do V và D1 mỗi người góp 150.000 đồng), mục đích mua Heroine để sử dụng. Căn cứ lời khai của V, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Lý A P, thu giữ được của P: 01 gói chất bột màu vàng nâu dạng cục, được gói bằng mảnh nilon màu xanh; 01 gói chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc, được gói bằng mảnh nilon màu trắng và số tiền 500.000 đồng.
Quá trình điều tra, Lý A P khai nhận: Khoảng 15 giờ, ngày 07/3/2024, P đi từ nhà đến bản S, xã M, huyện P, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại bản Sàng Sang, P mua của một người đàn ông Trung Quốc, không rõ lai lịch, 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh và 01 gói Thuốc phiện được gói bằng mảnh nilon màu trắng với số tiền 350.000 đồng. Do số Heroine P2 mua được bị dính nước nên có màu vàng nâu. Mua được ma túy, P2 mang về nhà cất giấu trong túi áo đang mặc, không cho ai biết. Từ ngày 07/3/2024 đến ngày 12/3/2024, P2 nhiều lần lấy gói Heroine ra sử dung bằng hình thức hít. Số ma túy còn lại, P2 cất giấu dưới đệm giường ngủ của con trai. Hồi 08 giờ 30 phút ngày 12/3/2024, khi Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Lý A P, P đã lấy gói Heroine và gói Thuốc phiện ra giao nộp và khai số Heroine và Thuốc phiện là của P mua về để sử dụng cho bản thân.
Tại bản Kết luận giám định số: 15 /KL-GĐVV, ngày 12/3/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Khối lượng chất bột dạng cục màu vàng nâu trong gói nilon màu xanh có khối lượng là 0,58 gam (Không phẩy năm mươi tám gam); khối lượng chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc trong gói nilon màu trắng là 0,15 gam (Không phẩy mười lăm gam). Tại bản Kết luận giám định số: 306/KL-KTHS, ngày 14/3/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 01 mẫu chất bột, màu vàng nâu gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine; 01 mẫu nhựa dẻo, màu nâu đen gửi giám định là ma túy, loại Thuốc phiện.
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 3, khoản 2 Điều 5 của Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018, của Chính phủ, xác định được tỷ lệ phần trăm về khối lượng của H2 là: 0,58/5 x 100% = 11,6%; tỷ lệ phần trăm về khối lượng của H1 và Thuốc phiện mà Lý A P phải chịu trách nhiệm hình sự là: 11,6% + 0% = 11,6%, thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại bản Cáo trạng số: 45/CT-VKSPT, ngày 27 tháng 6 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lý A P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lý A P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý A P từ 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,53 gam Heroine, được gói bằng mảnh giấy trắng không dòng kẻ; 0,07 gam Thuốc phiện, được gói bằng mảnh nilon màu trắng còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu xanh và vỏ niêm phong vật chứng. Đối với 0,05 gam Heroine trong tổng số Heroine thu giữ của bị cáo và 0,08 gam Thuốc phiện trong tổng số Thuốc phiện thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng và không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, các tình giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về điều kiện sinh sống, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Lý A P đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Lý A P đã tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,58 gam và 01 gói Thuốc phiện có khối lượng 0,15 gam, mục đích Phủ tàng trữ để sử dụng. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của H1 và Thuốc phiện mà Lý A P phải chịu trách nhiệm hình sự là: 11,6% + 0% = 11,6%, thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H1 và Thuốc phiện là ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Tình tiết liên quan đến vụ án: Bị cáo khai số H1 bị thu giữ là bị cáo mua của một người đàn ông Trung Quốc không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không xác định được người bán Heroine cho bị cáo để xử lý.
Quá trình điều tra, Chang A khai đã mua Heroine của Lý A P vào khoảng 20 giờ, ngày 11/3/2024 nhưng P không thừa nhận việc bán trái phép Heroine cho V, ngoài lời khai của V không có tài liệu, chứng cứ nào khác không đủ căn cứ xác định việc P bán Heroine cho V. Do vậy, ngày 27/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Lý A P. Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Chang A và Hảng A bị Công an xã M phát hiện vào ngày 11/3/2024, tại bản C, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu cũng được xem xét giải quyết trong vụ án khác.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Năm 2016, bị cáo bị kết án về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công và ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới. Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận đề nghị của người bào chữa. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,05 gam Heroine trong tổng số Heroine thu giữ của bị cáo và 0,08 gam Thuốc phiện trong tổng số Thuốc phiện thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: 0,53 gam Heroine, được gói bằng mảnh giấy trắng không dòng kẻ; 0,07 gam Thuốc phiện, được gói bằng mảnh nilon màu trắng còn lại sau giám định; mảnh ni lon màu xanh; vỏ niêm phong vật chứng. Đây đều là những vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử cho bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Lý A P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lý A P: 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- 0,53 gam Heroine, được gói bằng mảnh giấy trắng không dòng kẻ;
- 0,07 gam Thuốc phiện, được gói bằng mảnh nilon màu trắng còn lại sau giám định;
- 01 mảnh nilon màu xanh; vỏ niêm phong vật chứng.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 90/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tàng trữ TPCMT
