Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

Bản án số: 90/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH

DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Dương Thị Bạn;
  2. Bà Lê Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Thị Mỹ L, sinh năm: 2000 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; nơi tạm trú: 3/14 đường L, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hoàng A, sinh năm: 1979 và bà Ngô Thị Cẩm N, sinh năm: 1983; bị cáo có 05 người con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú 19/8/2023 cho đến nay.

Bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Minh T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 11/8/2023, Võ Thị Mỹ L đi đến khu vực gần Công ty C tại địa chỉ khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp đối tượng tên “Tô” (cao khoảng 1 mét 62, nói giọng miền nam) để mua ma túy đá với giá 400.000 đồng. T1 đưa cho L 01 túi ma túy đá rồi L cất giấu vào túi quần phía trước bên phải L đang mặc để mang về sử dụng. Khi đi bộ đến đầu đường L thuộc khu phố B, phường L, thành phố T thì bị Công an phường L đang tuần tra trên địa bàn phát hiện L có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Lúc này, L khai nhận bản thân có sử dụng chất ma túy và tự lấy từ trong túi quần trước bên phải L đang mặc ra 01 (một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong có chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho lực lượng Công an và khai nhận là ma túy đá của L cất giấu để sử dụng nên Công an phường L tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật và đưa L về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh.

Tại Kết luận giám định số 495/KL-KTHS (MT) ngày 16/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma túy, loại Metamphetamine, có khối lượng: 0,5245 gam.

Cáo trạng số: 84/CT-VKS-TA ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Võ Thị Mỹ L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c, d khoản 2 Điều 290; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thị Mỹ L mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng:

  • Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 495/PC09 bên trong chứa ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B là chất cấm;
  • Đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh.

Bị cáo Võ Thị Mỹ L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nội dung đơn thể hiện bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo Võ Thị Mỹ L gửi đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 15/4/2024. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử phù hợp với điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.

[2] Trong quá trình tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại biên bản làm việc ngày 11/8/2023 (BL06), bản tự khai ngày 11/8/2023 (BL15) và ngày 31/8/2023 (BL71); biên bản ghi lời khai ngày 11/8/2023, ngày 19/8/2023 (BL13,14 và BL20,21) và biên bản hỏi cung bị can ngày 31/8/2023 (BL70,71), bị cáo Võ Thị Mỹ L đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã công bố truy tố bị cáo tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 11/8/2023, tại đường L thuộc khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Võ Thị Mỹ L có hành vi tàng trữ trái phép 0,5245 gam ma túy loại Metamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo Võ Thị Mỹ L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy, gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh, bình thường của con người. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[8] Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 495/PC09 bên trong chứa ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh là phương tiện bị cáo L sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước.

[10] Đối với đối tượng tên “Tô” bán ma túy cho Võ Thị Mỹ L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch; xác minh lịch sử cuộc gọi từ số thuê bao "0355.326.800” của L nhưng chưa có kết quả, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh để xử lý sau.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c, d khoản 2 Điều 290; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
  • Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Võ Thị Mỹ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Võ Thị Mỹ L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 495/PC09 bên trong chứa ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B.
  • Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP.Thuận An;
  • - Chi cục THADS TP. Thuận An;
  • - Công an TP.Thuận An;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 90/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger