TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/DS-ST. Ngày: 24-7-2024. V/v tranh chấp về quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Minh.
2. Ông Trần Văn Em.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 354/2022/TLST- DS ngày 28/12/2022; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-DS ngày 05/6/2024; Quyết định Hoãn phiên tòa số 85/2024/QÐST-DS ngày 28/6/2024; về việc: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” giữa:
Nguyên đơn: Ông Hoàng M – sinh năm 1950;
Bà Nguyễn Thị T– sinh năm 1954.
Cùng địa chỉ: Khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn : Hoàng Thị Kim A – sinh năm 1976.
Địa chỉ: 1 T, phường P, thành phố T - Hồ Chí Minh.
Hiện cư trú: Khu phố A, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hoàng Thị Mỹ D – sinh năm 1973;
Địa chỉ: 201/58/17 N, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàng Thị Kim P – sinh năm 1979;
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Hoàng Thị Kim P1 – sinh năm 1981;
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Hoàng Minh H – sinh năm 1984;
- Hoàng Minh H1 – sinh năm 1988.
Cùng địa chỉ: Khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T, bà D, bà P, bà P1, ông H, ông H1: Ông Hoàng M – sinh năm 1950, theo các Giấy ủy quyền lập ngày 20/12/2022 và ngày 21/12/2022.
Có mặt nguyên đơn ông M, bà T. Vắng mặt bị đơn bà A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 23/11/2022, cũng như tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T trình bày: Vào năm 1987 vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng 01 căn nhà vách đất thuộc thửa đất có diện tích 448,4m² của gia đình ông Ngô L, sau này ông bà có xây sửa lại và sử dụng cho đến nay. Đến năm 2004 ông bà được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 623848 đứng tên hộ ông Hoàng M. Đến năm 2012 thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 đứng tên hộ ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T. Việc cấp giấy đứng tên hộ là không đúng bởi vì đây là số tiền của vợ chồng ông bà bỏ ra không liên quan gì đến các con của ông bà. Hiện nay ông bà muốn làm thủ tục tặng cho số tài sản trên thì có con tên Hoàng Thị Kim A không đồng ý, nên không thực hiện được. Nay ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên thửa đất số 3 diện tích 448,4m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 25/6/2012 cấp đứng tên hộ ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T là tài sản của vợ chồng ông bà.
Bị đơn Hoàng Thị Kim A trình bày : Đối với việc Ba mẹ bà là ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T khởi kiện bà thì bà không có ý kiến gì, ba mẹ bà muốn làm gì thì làm, chứ bà bận công việc làm ăn không có thời gian đến Tòa. Tòa án muốn xét xử như thế nào thì tùy, bà không có ý kiến.
Tòa án đã lập các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Hoàng Thị Kim A nhưng bà A không đến Tòa án làm việc. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T yêu cầu công nhận diện tích 448,4m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 25/6/2012 cấp đứng tên hộ ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T là tài sản của cá nhân ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T thấy rằng:
Tại văn bản số 234/UBND-NC ngày 23/01/2024 của Ủy ban nhân dân, huyện H xác định: Diện tích 448,4m² đất tranh chấp tại khu phố L, thị trấn M cấp tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 25/6/2012, đứng tên hộ ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T là cấp cho hộ ông M, bà T nhưng hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 nói trên là cấp đổi từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 623484, cấp ngày 09/4/2004 đứng tên hộ Hoàng Mão không thể hiện các thành viên trong hộ cũng không có thông tin về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất. Tuy nhiên nguyên đơn ông M, bà T có cung cấp một Giấy sang nhượng nhà lập ngày 30/3/1987 có nội dung ông Hoàng M nhận chuyển nhượng nhà và số diện tích đất nói trên của người khác, số diện tích đất nói trên không thuộc trường hợp đất cấp theo diện bình quân nhân khẩu. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M, bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Nguyên đơn ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất. Hiện bị đơn và tài sản tranh chấp đều ở tại thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được pháp luật quy định tại Khoản 9 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a, c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận diện tích 448,4m² đất tranh chấp tại khu phố L, thị trấn M cấp tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 25/6/2012, đứng tên hộ ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T là tài sản của cá nhân ông Hoàng M và bà Nguyễn Thị T.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn, xét thấy :
Tại văn bản số 234/UBND-NC ngày 23/01/2024 của Ủy ban nhân dân, huyện H xác định: Diện tích 448,4m² đất tranh chấp tại khu phố L, thị trấn M cấp tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 25/6/2012, đứng tên hộ ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T là cấp cho hộ ông M, bà T nhưng hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 nói trên là cấp đổi từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 623484, cấp ngày 09/4/2004 đứng tên hộ Hoàng Mão không thể hiện các thành viên trong hộ cũng không có thông tin về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất.
Trình tự, thủ tục và nội dung cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 do Ủy ban nhân dân huyện C ngày 25/6/2012, đứng tên hộ ông Hoàng M và bà Nguyễn Thị T từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 623484, cấp ngày 09/4/2004, đứng tên hộ Hoàng M là đúng quy định của pháp luật về đất đai. Căn cứ Bản đồ Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 của huyện H được phê duyệt kèm theo Quyết định số 233/QĐ-UBND ngày 06/02/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh thì vị trí diện tích 448,4m² đất tranh chấp nằm trong quy hoạch sử dụng đất ở tại đô thị (ODT).
Hội đồng xét xử nhận thấy, qua các nội dung Công văn của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận thấy rằng: Diện tích đất tranh chấp đo đạc hiện trạng 448,4m² hiện nay đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 25/6/2012, đứng tên hộ ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T. Tuy nhiên, về nguồn gốc số diện tích đất nói trên là do ông Hoàng M nhận chuyển nhượng từ gia đình ông Ngô L theo Giấy sang nhượng nhà lập ngày 30/3/1987, trên đất có 01 ngôi nhà vách đất, tại thời điểm này các con ông bà còn rất nhỏ, bà Hoàng Thị Kim A mới được 11 tuổi. Số tiền nhận chuyển nhượng diện tích đất trên là của cá nhân ông M, bà T. Việc Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số Đ 623484, ngày 09/4/2004 đứng tên hộ ông Hoàng M và cấp đổi tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556, ngày 25/6/2012, đứng tên hộ ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T là không phù hợp, đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông M, bà T. Do vậy, việc ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T yêu cầu công nhận diện tích 448,4m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 25/6/2012 cấp đứng tên hộ ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T là tài sản của cá nhân ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T là hoàn toàn có căn cứ để chấp nhận. Trên đất hiện có 01 ngôi nhà cấp 4B(nhà trước) và 01 nhà cấp 4A(nhà sau).
[4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát thì qua như phân tích ở trên theo đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.
[5] Về án phí và các chi phí tố tụng khác:
+ Về án phí: Ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm (ông M, bà T thuộc trường hợp miễn án phí dân sự sơ thẩm).
Bà Hoàng Thị Kim A phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.
Bà Hoàng Thị Mỹ D, bà Hoàng Thị Kim P, bà Hoàng Thị Kim P1, ông Hoàng Minh H, ông Hoàng Minh H1 không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
+ Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Tại Tòa ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T tự nguyện thỏa thuận chịu 5.581.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông M, bà T đã nộp đủ tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, nên không phải nộp nữa.
Bà Hoàng Thị Mỹ D, bà Hoàng Thị Kim P, bà Hoàng Thị Kim P1, ông Hoàng Minh H, ông Hoàng Minh H1 và bà Hoàng Thị Kim A không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 9 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a, c Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 91, Điều 94, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 4, Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều 169, Khoản 1 Điều 179, Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng M và bà Nguyễn Thị T.
Xác định diện tích đất 448,4m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 951556 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 25/6/2012, đứng tên hộ ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T, tọa lạc tại khu phố L, thị trấn M, huyện H, tỉnh Bình Thuận là tài sản của cá nhân ông Hoàng M và bà Nguyễn Thị T. Trên đất hiện có 01 ngôi nhà cấp 4B(nhà trước) và 01 nhà cấp 4A(nhà sau).
Vị trí khu đất có tứ cận: Đông giáp: Đất ông Nguyễn Xuân L1; Tây giáp: Đường bê tông; Nam giáp: Đường đất; Bắc giáp: Đất bà Lê Thị D1 (Có trích lục bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 06/4/2023 kèm theo).
Ông Hoàng M và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
- Về án phí và các chi phí tố tụng khác:
Căn cứ Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 166 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm (ông M, bà T thuộc trường hợp miễn án phí dân sự sơ thẩm).
Bà Hoàng Thị Kim A phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.
Bà Hoàng Thị Mỹ D, bà Hoàng Thị Kim P, bà Hoàng Thị Kim P1, ông Hoàng Minh H, ông Hoàng Minh H1 không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
Ông Hoàng M, bà Nguyễn Thị T tự nguyện thỏa thuận chịu 5.581.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông M, bà T đã nộp đủ tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, nên không phải nộp nữa.
Bà Hoàng Thị Mỹ D, bà Hoàng Thị Kim P, bà Hoàng Thị Kim P1, ông Hoàng Minh H, ông Hoàng Minh H1 và bà Hoàng Thị Kim A không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/7/2024). Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại chính quyền địa phương.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- -TAND tỉnh Bình Thuận;
- -VKSND huyện Hàm Thuận Bắc;
- -Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
- -Các đương sự;
- -Lưu: VT, hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 90/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 90/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
