Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 4 - 2024.
V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Chí Lin.
  2. Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1229/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1976 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đức Lập Th, huyện Đức H, tỉnh L.

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Th, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đức Lập Th, huyện Đức H, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 31 tháng 10 năm 2023 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Huỳnh Thị M trình bày: Bà và ông Huỳnh Văn Th chung sống với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Lập Th, huyện Đức H, tỉnh L. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Ông bà đã ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên bà xin ly hôn với ông Huỳnh Văn Th.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông bà có một con chung tên Huỳnh Thị Kim Th, sinh ngày 20/5/2008. Con hiện đang sống chung với bà. Khi ly hôn, bà xin nuôi con, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, bà Huỳnh Thị M có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng ông Huỳnh Văn Th vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà Huỳnh Thị M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Văn Th, ông Th hiện thường trú và có mặt tại ấp Đ, xã Đức Lập Th, huyện Đức H, tỉnh L (được Công an xã Đức Lập Thxác nhận) nên Tòa án nhân dân huyện Đức H thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị M xin vắng mặt; bị đơn ông Huỳnh Văn Th đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị M và ông Huỳnh Văn Th chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Lập Th, huyện Đức H, tỉnh L, số đăng ký kết hôn 448 ngày 31/10/2023 nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Thấy rằng, trong quá trình chung sống, bà M cho rằng do cuộc sống vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn giữa ông bà cũng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết. Đối với ông Th, từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, mặc dù đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định, biết được yêu cầu khởi kiện của bà M nhưng ông Th không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà M. Tại phiên tòa, ông Th vẫn vắng mặt, chứng tỏ không có thiện chí để hàn gắn, trong khi vợ chồng mâu thuẫn nên đã ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng của ông bà không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của bà M và ông Th là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về con chung và cấp dưỡng: Bà M trình bày bà và ông Th chung sống có một con chung tên Huỳnh Thị Kim Th, sinh ngày 20/5/2008. Con hiện đang sống với bà M. Khi ly hôn, bà M xin được quyền nuôi con chung. Đối với ông Th, dù đã được thông báo về yêu cầu của bà M đối với con chung nhưng ông Th vẫn không đến Tòa án, cũng không có văn bản phản hồi ý kiến gửi Tòa án.

Xét thấy, từ khi bà M và ông Th xa nhau đến nay, bà M là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, bà vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung. Ngoài ra, cháu Kim Th là con gái, cần có sự chăm sóc, gần gũi của người mẹ. Đồng thời, cháu trên 07 tuổi, có nguyện vọng sống chung với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao con chung Kim Th cho bà M nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà M không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con, ông Th cũng không có ý kiến phản hồi về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đề cập, xem xét đến.

[5]. Về tài sản chung: Bà M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Th không có văn bản phản hồi ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu ông Th có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

[6]. Về nợ chung: Bà M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Th không có văn bản phản hồi ý kiến về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu ông Th có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

[7]. Về án phí: Bà Huỳnh Thị M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, 5, 81, 82, 83, và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị M đối với ông Huỳnh Văn Th về việc “Ly hôn”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị M được ly hôn với ông Huỳnh Văn Th.

- Về con chung: Bà Huỳnh Thị M được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Huỳnh Thị Kim Th, sinh ngày 20/5/2008. Ông Huỳnh Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà M không yêu cầu. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị M trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét đến. Nếu ông Th có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

- Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị M trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét đến. Nếu ông Th có tranh chấp nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

2. Về án phí: Bà Huỳnh Thị M chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. Bà M được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006797ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh L để thi hành.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh L;
  • - VKSND huyện Đức H;
  • - UBND xã Đức Lập Th;
  • - Chi cục THADS huyện Đức H;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn

  • Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: M ly hôn Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger