TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST
Ngày 22-5-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Nam
- 2. Ông Võ Thanh Tân
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 253/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1970
- Cư trú: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1968
- Cư trú: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết nguyên đơn ông Nguyễn Trung T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Mỹ L tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 1991, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành và hiện vợ chồng đã sống ly thân. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân đã trầm trọng không thể hàn gắn và kéo dài nên ông T yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông và bà L.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Ngọc Hoàng U, sinh năm 1993 và Nguyễn Nhựt P, sinh năm 1996. Hiện các con chung đã trưởng thành và đều có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Nguyễn Thị Mỹ L đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của ông T. Tại phiên tòa, bà L tiếp tục vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông T và bà L. Về con chung, hiện 02 con chung đã trưởng thành ông T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông T yêu cầu không công nhận ông và bà L là vợ chồng. Theo bản sao sổ hộ khẩu do Công an thành phố L cấp ngày 26/11/2013, chủ hộ ông Nguyễn Trung T, được Ủy ban nhân dân phường M chứng thực ngày 10/4/2024 thể hiện bà L cư trú tại số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà L được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo ông T trình bày thì ông và bà L chung sống với nhau vào năm 1991, có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, quá trình chung sống do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân một thời gian dài và hiện tình cảm không còn, nên ông T yêu cầu Tòa án không công nhận ông và bà L là vợ chồng. Bà L vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của ông T và không cung cấp, giao nộp chứng cứ khác. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có hồ sơ vụ án như: giấy khai sinh của các con chung Nguyễn Ngọc Hoàng U, sinh năm 1993; Nguyễn Nhựt P, sinh năm 1996 và Đơn xin xác nhận ngày 10/4/2024 của ông T, được UBND phường M xác nhận ngày 11/4/2024 với nội dung: “UBND phường M xác nhận, cán bộ chuyên môn rà soát trên phần mềm dữ liệu hộ tịch không có thông tin ông Nguyễn Trung T đăng ký kết hôn”, nên có căn cứ để chấp nhận đối với trình bày của ông T về việc ông và bà L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1991 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Như vậy, hôn nhân của ông bà đã vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về việc đăng ký kết hôn và hậu quả của việc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/06/2000 của Quốc hội và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Trung T và bà Nguyễn Thị Mỹ L là vợ chồng.
[2.2] Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Nguyễn Ngọc Hoàng U, sinh năm 1993 và Nguyễn Nhựt P, sinh năm 1996. Hiện các con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà L không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết. Đương sự có tranh chấp, khởi kiện vụ kiện khác theo quy định.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Trung T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Trung T và bà Nguyễn Thị Mỹ L là vợ chồng.
- - Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Ngọc Hoàng U, sinh năm 1993 và Nguyễn Nhựt P, sinh năm 1996. Hiện các con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- - Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Trung T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001761, ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông T đã nộp đủ.
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Chiền |
Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố ông T và bà L không phải là vợ chồng
