TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/HS-ST
Ngày 22-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tuấn.
- Ông Hoàng Văn Thái.
- - Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn H, sinh ngày 02/6/1983, tại C, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: La Ha; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn B, đã chết và con bà Lò Thị Ứ, sinh năm 1951; có vợ Lò Thị O, sinh năm 1982, có 03 con lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số: 77/2011/HSST ngày 28/7/2011 của TAND huyện Mường La đã xử phạt 60 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Văn T – Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người làm chứng:
Lò Văn S, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lò Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 17 giờ 35 phút ngày 23/01/2024, tại bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang Lò Văn H, sinh ngày 02/6/1983, ở bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ do Lò Văn H tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên phải giao nộp gồm:
01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, Lò Văn H khai là H1 để sử dụng và bán kiếm lời;
01 tờ tiền mệnh giá 20.000, đồng.
Ngày 23/01/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ do Lò Văn H tự giác giao nộp: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 2,72 gam, lấy 0,09 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H1.
Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 417/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu ký hiệu H1 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,09 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 2,72 gam Heroine;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn H, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra Lò Văn H khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23/01/2024 Lò Văn H đi từ nhà đến khu vực bản Đ, xã C, huyện M, tại đây Lò Văn H có gặp và mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 600.000, đồng cất giấu trong trong túi áo khoác bên phải, mục đích để sử dụng và để bán kiếm lời, đi đến khu vực đầu bản Huổi Tóng, xã C, huyện M gặp Lò Văn S, sinh năm 1992 cùng bản Huổi Tóng, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Hai người trao đổi mua bán ma túy Lò Văn H bán cho Lò Văn S một ít ma túy với số tiền 20.000, đồng. Số ma túy còn lại và tờ tiền 20.000, đồng cất vào túi áo khoác bên phải đi về thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Về nguồn gốc ma túy Lò Văn H khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 600.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Lò Văn H.
Đối với Lò Văn S mua ma túy của Lò Văn H xong đã sử dụng hết, được xác định là đối tượng sử dụng ma túy công an đã giao cho Công an xã C, huyện M quản lý.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lò Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 59/CT-VKS-ML ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lò Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Lò Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lò Văn H từ 36 đến 42 tháng tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 2,63 gam Heroine (đều được niêm phong).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước: Số tiền 20.000, đồng do mua bán ma túy mà có.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Bị cáo Lò Văn H thừa nhận: Hồi 17 giờ 35 phút ngày 23/01/2024, tại bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 2,72 gam, mục đích để sử dụng và đã bán một ít Heroine cho Lò Văn S ở bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La được 20.000, đồng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định, lời khai của người mua ma túy.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Lò Văn H đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức hình phạt nhằm giáo dục bị cáo.
Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo đã bị kết án tại Bản án số: 77/2011/HSST ngày 28/7/2011 của TAND huyện Mường La đã xử phạt 60 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích. Được coi là chưa có tiền án. Bị cáo không có tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
[3]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 2,63 gam Heroine (đều được niêm phong).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước: Số tiền 20.000, đồng do mua bán ma túy mà có.
Về nguồn gốc ma túy Lò Văn H khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 600.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Lò Văn H, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Đối với Lò Văn S mua ma túy của Lò Văn H xong đã sử dụng hết, được xác định là đối tượng sử dụng ma túy, Công an đã giao cho Công an xã C, huyện M quản lý đối với người sử dụng ma túy là có căn cứ.
Do bị cáo không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố Lò Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn H 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23/01/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 2,63 (hai phẩy sáu mươi ba) gam Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 23/01/2024).
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước: Số tiền 20.000, đồng (hai mươi nghìn đồng) do mua bán ma túy mà có (được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 23/01/2024).
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lò Văn H phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 22/5/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 90/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự số 90, ngày 22/5/2024
