Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 90/2024/HS-ST

Ngày: 22-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Anh Tuấn

2. Bà Trịnh Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân

thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định

tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 03 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Xuân Đ, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1996; tại: Tỉnh Nam Định; nơi thường trú và nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân T (đã chết) và bà Trần Thị V (đã chết); chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04-01-2024, chuyển tạm giam ngày 13-01-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N, tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông Vũ Văn Đ1 và ông Nguyễn Quang T1 (không triệu tập đến phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 4 giờ ngày 04-01-2024, tổ công tác Công an phường Q, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà A đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Trần Xuân Đ đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B2-26586 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, quá trình kiểm tra, tổ công tác thu giữ trong tay trái của Đ 01 túi nilong màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (Đ khai là ma túy đá mua về để sử dụng). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người làm chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Xuân Đ theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của Đ 01 chiếc xe máy Wave biển kiểm soát 18B2-26586 (đã cũ).

Bản kết luận giám định số 240/KL - KTHS ngày 09-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng thu giữ của bị cáo Trần Xuân Đ, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,259 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Xuân Đ khai nhận: Khoảng 3 giờ 30 phút ngày 04-01-2024, Đ điều khiển xe máy Wave biển kiểm soát 18B2-26586 một mình từ nhà đến khu vực cầu L, phường L, thành phố N. Khi đến nơi, Đ gặp một người đàn ông tên H (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng. Đ cầm túi ma túy trên tay trái đi tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 87/CT-VKSND-TPNĐ ngày 26-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Xuân Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Xuân Đ đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Xuân Đ tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân Đ từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù.

2

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo Trần Xuân Đ nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Xuân Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Xuân Đ trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04-01-2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu ngày 04-01-2024; Bản kết luận giám định số 240/KL - KTHS ngày 09-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 4 giờ ngày 04-01-2024, tại khu vực trước cửa số nhà A đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định, Trần Xuân Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,259 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Trần Xuân Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,259 gam nên bị cáo Trần Xuân Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

3

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Xuân Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Trần Xuân Đ không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Xuân Đ là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Trần Xuân Đ không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Xuân Đ là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với đối tượng bán ma túy cho Trần Xuân Đ, tài liệu chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

Đối với chiếc xe máy Wave biển kiểm soát 18B2-26586 (đã cũ) thu giữ của bị cáo Trần Xuân Đ, hiện Cơ quan điều tra chưa xác minh được nguồn gốc nên tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

[8] Về án phí:

Bị cáo Trần Xuân Đ bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

4

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân Đ 02 năm tù (hai năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 04-01-2024.

2. Xử lý vật chứng:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 240/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.

(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05-4-2024)

3. Án phí:

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Xuân Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Trần Xuân Đ có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Xuân Đ có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Thu Định

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 90/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Xuân Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger