Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 90/2022/DS-ST

Ngày: 22/4/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ

Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hoàng Tuấn;
  2. Ông Lê Trung Thành.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 271/2023/TLST – DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH H. Địa chỉ: Số D T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật của công ty: Bà Phạm Thị Như B. Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền của công ty: Ông Phan Hòa N, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên lạc: Số C H, phường C, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Â, sinh năm 1972; Bà Phạm Thị C, sinh năm 1969. Cùng trú tại tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2023 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn và người đại diện của nguyên đơn trình bày: Công ty TNHH H (sau đây gọi là công ty H) và ông Â, bà C có thoả thuận mua bán thức ăn và thuốc thuỷ sản với nhau. Theo đó, công ty H là bên bán, ông Â, bà C là bên mua, hai bên không có làm hợp đồng bằng văn bản mà thoả thuận miệng khi nào cần thức ăn, thuốc thì bên ông Â, bà C điện thoại số lượng, loại hàng thì công ty sẽ giao thức ăn đến cho bị đơn ký nhận và xác nhận nợ mỗi kỳ. Tính đến ngày 25/9/2019, bị đơn còn nợ công ty H số tiền vốn do mua thức ăn còn thiếu là 184.458.500đ, sau đó ngay trong ngày 25/9/2019 bị đơn có trả được 50.000.000đ, còn nợ lại số tiền 134.458.500đ ngưng cho đến nay không trả. Nay công ty H yêu cầu ông Â, bà C phải trả cho công ty H số tiền nợ vốn là 134.458.500đ, đồng thời yêu cầu tính lãi suất theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 25/9/2019 đến ngày 20/10/2023 với số tiền là 54.530.000đ, không yêu cầu tính lãi tiếp theo.

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Biên bản xác nhận công nợ ngày 25/9/2029.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Â, bà Phạm Thị C Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông Â, bà C vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên toà:

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn Â, bà Phạm Thị C có nghĩa vụ trả cho công ty H số tiền nợ do mua thức ăn thiếu vốn 134.458.500đ, tiền lãi 54.530.000đ tính từ ngày 25/9/2019 đến ngày 20/10/2023, đại diện nguyên đơn không yêu cầu tính lãi tiếp theo từ ngày 21/10/2023 đến ngày xét xử nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • + Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử tính theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng:
  • - Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Bị đơn ông Nguyễn Văn Â, bà Phạm Thị C có địa chỉ thường trú tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Nguyên đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc các bị đơn có nghĩa vụ trả tiền mua thức ăn còn thiếu và giao dịch thực hiện năm 2019 là thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực nên xác định quan hệ pháp luật là hợp đồng mua bán tài sản được quy định tại Điều 430 của Bộ luật dân sự 2015.
  • - Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên toà: đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn Â, bà Phạm Thị C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Â, bà C.
  1. Về nội dung giải quyết vụ án:
  1. Về hợp đồng mua bán tài sản:

Quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn Â, bà Phạm Thị C phải trả tiền nợ mua thức ăn còn thiếu là 134.458.500đ. Hội đồng xét xử xét thấy, việc mua bán thức ăn cá giữa công ty H và ông Â, bà C trên thực tế có xảy ra và được xác lập trên cơ sở thoả thuận tự nguyên của hai bên, tuy không có làm giấy tờ hợp đồng mua bán, nhưng ông  ký xác nhận nợ ngày 25/9/2019 còn nợ nguyên đơn số tiền 134.458.500đ.

Theo khoản 2 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chứng minh “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”, trong vụ án này, Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác cho ông Â, bà C nhưng ông bà không có ý kiến phản đối cũng như không cung cấp, giao nộp cho Toà án tài liệu chứng cứ chứng minh để phản đối việc nguyên đơn khởi kiện ông bà. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 134.458.500đ là có cơ sở chấp nhận.

  1. Về lãi suất:

Tại phiên hoà giải, đại diện nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 25/9/2019 đến ngày 20/10/2023 theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với số tiền lãi là 54.530.000đ (tính từ ngày 25/9/2019 là ngày ký xác nhận công nợ đến ngày 20/10/2023 là ngày nguyên đơn làm đơn khởi kiện), nguyên đơn không yêu cầu tính lãi tiếp theo. Xét, việc hai bên giao dịch không có lập văn bản, không thể hiện có thoả thuận lãi suất chậm trả nhưng do bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật dân sự “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”, nên Hội đồng xét xử áp dụng lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự để tính lãi chậm trả từ ngày 25/9/2019 đến ngày 20/10/2023, tính như sau:

134.458.500₫ x 10%/năm x 48 tháng 25 ngày = 54.695.000₫

Tuy nhiên, đại diện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi tính từ 25/9/2019 đến ngày 20/10/2023 với số tiền 54.530.000đ là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc các bị đơn có nghĩa vụ trả nguyên đơn số tiền lãi 54.530.000đ. Đại diện nguyên đơn không yêu cầu tính lãi tiếp theo đến ngày xét xử nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Như vậy, bị đơn ông Nguyễn Văn Â, bà Phạm Thị C có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn công ty H tổng số tiền 188.988.500₫, trong đó tiền vốn 134.458.500đ, tiền lãi 54.530.000₫.

  1. Về án phí:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 “Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận”. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên các bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên buộc ông Nguyễn Văn Â, bà Phạm Thị C phải chịu 9.449.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 27; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Điều 357; Điều 430; Điều 440; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công ty TNHH H.
  • Buộc ông Nguyễn Văn Â, bà Phạm Thị C phải có nghĩa vụ liên đới trả cho công ty TNHH H số tiền 188.988.500đ (Một trăm tám mươi tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn năm trăm đồng), trong đó tiền vốn 134.458.500đ (Một trăm ba mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn năm trăm đồng), tiền lãi 54.530.000đ (Năm mươi bốn triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) tiền lãi tính đến ngày 20/10/2023. Đại diện nguyên đơn không yêu cầu tính lãi đến ngày xét xử nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về án phí:
  • Ông Nguyễn Văn Â, bà Phạm Thị C cùng phải chịu 9.449.000đ (Chín triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • Công ty TNHH H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH H số tiền 4.725.000₫ (Bốn triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005132 ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
  • Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
  • - Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  • Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAT An Giang;
  • - THA huyện Châu Phú;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngọc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2022/DS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 90/2022/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng mua bán (Cty Hương Mê Kông - Ân, Các)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger