Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 02 – 12 – 2025

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia

đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Văn Dứt;
  2. Bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Xuân Hoài, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khu vực 11, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 134/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích P, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp Đ, xã C, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: tổ D, ấp T, xã C, tỉnh An Giang; có mặt.

Bị đơn: Ông Bùi Văn N, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp Đ, xã C, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: tổ D, ấp T, xã C, tỉnh An Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Bích P trình bày:

Sau thời gian quen biết và tìm hiểu, bà P và ông N kết hôn năm 2000, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã C, tỉnh An Giang) vào ngày 27/11/2003. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 03 con chung tên Bùi Thị Thanh T, sinh năm 2000, Bùi Lê Quang T1, sinh năm 2007 và Bùi Lê Thiên T2, sinh ngày 04/8/2010; không yêu cầu giải quyết tài sản chung, không có nợ chung.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, không có tiếng nói chung, mâu thẫu về kinh tế gia đình.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà P yêu cầu được ly hôn với ông N; tại đơn khởi kiện bà P yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Bùi Lê Thiên T2, sinh ngày 04/8/2010, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi dạy con chung, nay bà thay đổi ý kiến đồng ý để ông N được quyền nuôi con chung Bùi Lê Thiên T2, bà P không cấp dưỡng nuôi con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện gồm: trích lục giấy chứng nhận kết hôn; bản sao giấy khai sinh của Bùi Thị Thanh T, Bùi Lê Quang T1, Bùi Lê Thiên T2.

- Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Bùi Văn N trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của bà P về thời gian chung sống, đăng ký kết hôn, về quan hệ con chung, tài sản chung, nợ chung. Vợ chồng chung sống với nhau có mẫu thuẫn nhưng không lớn, ông N không thể chia sẻ được với bà P, vì bà P không tạo cho ông cơ hội để trao đổi với nhau. Vì còn tình cảm thương vợ nên ông không đồng ý ly hôn với bà P. Tòa án đã tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm nhưng ông N không hàn gắn được, vì bà P không đồng ý.

Ông N và bà P có 03 con chung tên Bùi Thị Thanh T, sinh năm 2000, Bùi Lê Quang T1, sinh năm 2007, Bùi Lê Thiên T2, sinh ngày 04/8/2010. Vì không đồng ý ly hôn nên ông N không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa,

- Bà P trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, bà P không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

Ông N trình bày ý kiến, bà P mong muốn ly hôn ông không có ý kiến nhưng không đồng ý ký tên để tự nguyện thuận tình ly hôn, đồng ý để Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung Bùi Lê Thiên Tỷ ông đồng ý được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi cháu Bùi Lê Thiên T2.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà P và ông N chung sống có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà P, ông N hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Xét thấy, bà P yêu cầu ly hôn với ông N xuất phát từ việc bà P và ông N đã không có tiếng nói chung, thường hay mâu thuẫn, việc này ông N cũng thừa nhận và yêu cầu được hàn gắn tình cảm vợ chồng, Tòa án đã tạo điều kiện để hàn gắn nhưng không được, tại phiên tòa ông N không có ý kiến về quan hệ hôn nhân đồng ý để Tòa án tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật, mục đích hôn nhân của bà P, ông N không đạt nếu buộc sống chung sẽ không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P đối với ông N.

Về con chung: Có 03 con chung tên Bùi Thị Thanh T, Bùi Lê Quang T1 đã trưởng thành, Bùi Lê Thiên T2 để cho ông N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông N không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà P, ông N không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập đến.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bà Lê Thị Bích P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Bùi Văn N. Đồng thời, ông N cư trú trên địa bàn Khu V. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 11, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Bà P và ông N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà P, ông N là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Bà P xác định, trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cãi vả do bất đồng quan điểm và không còn sống chung sống với nhau. Nay bà P yêu cầu được ly hôn với ông N.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, cũng như tại phiên tòa, bà P khẳng định không còn tình cảm với ông N, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc không có tiếng nói chung, hay cãi nhau, vì thương các con bà P cố gắng chịu đựng, giữa hai vợ chồng không đồng nhất về quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, giữa bà P và ông N cũng không thường xuyên quan tâm nhau, không còn chung sống với nhau, bà P hiện đã thuê nhà để mua bán thức ăn. Từ khi thụ lý vụ án, cũng như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cả bà P, ông N cũng không thể đoàn tụ, hàn gắn tình cảm được; mặc dù ông N không đồng ý ly hôn, với lý do ông còn tình cảm với bà P, những mâu thuẫn bà P trình bày ông xác nhận là đúng và muốn sửa đổi sai điều này bà P không chấp nhận, Tòa án cũng đã tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng cả hai đến nay không có tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng, ông N cũng nhiều lần liên hệ để hai vợ chồng đoàn tụ, nhưng bà P không đồng ý.

Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà P yêu cầu ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.

[2.2] Về con chung: Bà P, ông N cùng thống nhất, trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 03 con chung Bùi Thị Thanh T, Bùi Lê Quang T1, hai cháu đã trưởng thành và Bùi Lê Thiên T2 bà P đồng ý để ông N được tiếp tục nuôi dưỡng ông N đồng ý.

Xét thấy, cháu Thiên T2 đang được ông N chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Tại các biên bản ghi nhận ý kiến con chung, các cháu điều có ý kiến muốn sống cùng cha sau khi cha mẹ ly hôn, việc giao cháu Thiên T2 cho ông N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do ông N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà P và ông N xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích P.

1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Bích P được ly hôn với ông Bùi Văn N.

2. Về con chung: 03 con chung Bùi Thị Thanh T, sinh năm 2000, Bùi Lê Quang T1, sinh năm 2007 đã trưởng thành. Ông Bùi Văn N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Bùi Lê Thiên T2, sinh ngày 04/8/2010. Bà Lê Thị Bích P không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Ông Bùi Văn N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Lê Thị Bích P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Bích P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003093 do Thi hành án dân sự tỉnh An Giang cấp ngày 06 tháng 10 năm 2025; bà Lê Thị Bích P đã nộp đủ án phí.

Ông Bùi Văn N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Lê Thị Bích P, ông Bùi Văn N có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 11 (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - THADS Khu vực 11 (1);
  • - UBND xã Cù Lao Giêng (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diễm Thúy

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diễm Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/HNGĐ-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 90/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger