|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 90/2025/HSPT Ngày: 04 - 4 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Kim Khánh
Bà Đinh Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Quyết Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo H Ly H Byă đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: H Ly H Byă, sinh ngày 07/10/1992 tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Buôn P, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện nay: thôn 6, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Êđê; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 10/12; tiền án: Không, tiền sự: Không; con ông Y D MLô và bà H Ñ Byă; Bị cáo có chồng là Nguyễn Hoàng T (đã ly hôn), hiện đang chung sống như vợ chồng với Nguyễn Trung L và có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 2009 và nhỏ nhất sinh năm 2023.
Nhân thân: Ngày 24/9/2024, bị TAND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 năm 06 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Bị cáo H Ly H Byă đang hoãn chấp Hnh án.
Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Nguyễn Thế Nh, sinh năm 1972; địa chỉ: 58 T, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Minh H; địa chỉ: Thôn 4, xã K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Ông Đinh Thanh Th, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn 11, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Ông Nguyễn Đạt Th1, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn 11, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Ông An Đăng Đ, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn 8, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bà H N Liêng; địa chỉ: Buôn Ch, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.
- Ông Lê Minh H, địa chỉ: Buôn Ko, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Ông Nguyễn Hoàng T1, địa chỉ: xã Ea, huyện Kr, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đầu năm 2015, thông qua ông Lê Minh H (sinh năm 1976; trú tại: Thôn 4, xã K, thành phố B), H Ly H Byă quen biết với ông Nguyễn Thế Nh (sinh năm: 1972; trú tại: 58 T, phường E, thành phố B). Vào một ngày khoảng đầu tháng 4/2015, trong một lần gặp nhau tại quán cà phê trên đường vào Sân bay B, thuộc địa bàn xã H, thành phố B, ông Nh kể cho H Ly H nghe về việc ông Nh đang nhờ một người phụ nữ là người đồng bào và ông H (thời điểm trên đang là tài xế lái xe Buýt chạy tuyến thành phố B đi huyện L, tỉnh Đắk Lắk) tìm mua đồ dùng sinh hoạt được làm bằng đồng của người đồng bào dân tộc Ê Đê (theo ông Nh là đồ vật được làm bằng "đồng đổi màu, đồng lạnh") cho ông Nh nhưng chưa tìm được. Do trước đó H Ly H có đến nhà ông Y B Kbuôr (tên thường gọi Ama M, đã chết) ở Buôn Ch, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk và thấy trong nhà ông Y B có 01 (một) chiếc nồi bằng đồng nên H Ly H nói với ông Nh là mình có quen một gia đình người đồng bào M'nông ở huyện L, tỉnh Đắk Lắk (ý nói nhà ông Y Bli) có 01 (một) chiếc nồi và 02 (hai) chiếc chén đều bằng đồng khi sờ vào thì rất lạnh. Nghe vậy, ông Nh nói nếu đổ nước vào chiếc nồi đồng rồi để lên bếp lửa đốt mà sau khoảng 01 giờ nước ở trong nồi không nóng hoặc để chiếc nồi không lên bếp rồi đốt lửa sau khoảng 30 phút dùng tay sờ vào đáy nồi mà thấy không nóng, thì đúng là đồ ông Nh cần mua. H Ly H nói chiếc nồi của người đồng bào mà H Ly H biết có đặc điểm giống như ông Nh mô tả, nên ông Nh nhờ H Ly H liên hệ để chỉ ông Nh mua chiếc nồi trên. Do thực tế H Ly H không biết chiếc nồi bằng đồng của gia đình ông Ama M có đặc điểm giống như đồ vật ông Nh cần mua hay không, nên không nói gì. Khoảng một tuần sau, ông Nh nhờ ông H nói với H Ly H dẫn ông Nh đến nhà người có đồ như H Ly H kể để giới thiệu cho ông Nh mua và nói nếu mua được thì ông Nh sẽ trả tiền công cho H Ly H và ông H. Ông H điện thoại cho H Ly H nói về việc ông Nh nhờ, thì H Ly H đồng ý. Sau đó, ông Nh cũng điện thoại cho H Ly H nhờ đưa ông Nh đến nhà người đồng bào có nồi và chén bằng đồng như H Ly H đã kể để ông Nh mua. Lúc này, H Ly H nảy sinh ý định lừa dối ông Nh để chiếm đoạt tài sản nên đồng ý dẫn ông Nh đi mua đồ mà ông Nh cần. Sau đó (không rõ ngày cụ thể) H Ly H, ông Nh và ông H cùng đi xe Buýt đến địa bàn huyện huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Trên đường đi ông Nh nói với H Ly H về những đồ vật mà ông Nh muốn mua là đồ ngày xưa (đồ cổ), nhưng người sở hữu không biết nên nhờ H Ly H dẫn vào nhà người có đồ để ông Nh liên hệ mua. Do có ý định
lừa dối ông Nh nên H Ly H nói: Người có đồ không bán cho người ngoài mà chỉ bán cho H Ly H, vì họ coi H Ly H như con cái trong nhà. Nghe vậy, ông Nh nói sẽ đưa tiền cho H Ly H để nhờ hỏi mua giúp cho ông Nh, thì H Ly H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền ông Nh sẽ đưa để nhờ mua đồ. Khi đến thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, H Ly H nói với ông Nh: Do người có đồ không gặp người lạ nên để H Ly H đi một mình (đi hỏi mua đồ cho ông Nh). Và để tạo niềm tin với ông Nh thì H Ly H gọi điện thoại cho ông Y B Kbuôr nói đến để đưa H Ly H đi mua đồ cho ông Nh. Lúc này, ông Nh đưa cho H Ly H số tiền 10.000.000 đồng và nói: Nếu người có đồ đồng ý bán thì dùng số tiền trên để mua, còn thừa thiếu bao nhiêu báo cho ông Nh biết; một lúc sau ông Y B đi xe máy (không xác định được biển số, đặc điểm của xe) ra gặp và chở H Ly H về nhà ông Y B tại Buôn Ch, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, còn ông Nh và ông H chờ ở quán nước ngoài thị trấn L. H Ly H vào nhà ông Y B thấy có 01 (một) chiếc nồi bằng đồng được gia đình ông Y B đang dùng để đựng nước, H Ly H hỏi mua chiếc nồi này nhưng ông Y B không đồng ý mà nói chờ hỏi ý kiến người thân trong gia đình, rồi sẽ trả lời sau. Tuy nhiên, H Ly H điện thoại cho ông Nh nói dối là gia đình ông Y B đòi bán chiếc nồi với giá là 15.000.000 đồng, ông Nh tin là thật nên nói H Ly H dùng số tiền ông Nh đưa để đặt cọc cho người có đồ (ông Y B), ông Nh sẽ lo tiền sau. H Ly H giữ lại số tiền 10.000.000 đồng ông Nh đưa, nhưng khi ra lại quán nước gặp ông Nh và ông H thì H Ly H nói dối là đã đặt cọc số tiền trên cho gia đình ông Y B. Sau khi quay về lại thành phố Buôn Ma Thuột thì cả ba vào quán ăn nhậu cùng nhau. Trong lúc ăn nhậu ông Nh nói những đồ vật mà ông Nh muốn mua có giá trị rất cao nếu mua rồi bán lại thì lời được rất nhiều tiền. Thấy ông Nh rất cần mua những đồ vật như H Ly H đã kể nên H Ly H nảy sinh ý định tiếp tục lừa dối để chiếm đoạt thêm tiền của ông Nh. Vì vậy, ngay ngày hôm sau (sau ngày đi huyện L), H Ly H gặp ông Nh và ông H tại quán cà phê Vị Đắng, địa chỉ: 21B, phường T, thành phố B, H Ly H đã nói dối với Nh là: Người có đồ đòi giá chiếc nồi đồng là 40.000.000 đồng, nhưng bớt cho 5.000.000 đồng còn 35.000.000 đồng. Ông Nh nói chưa lo đủ tiền và đưa thêm cho H Ly H 02 (hai) lần với tổng số tiền là 10.000.000 đồng, để H Ly H tiếp tục đặt cọc mua chiếc nồi cho ông Nh. Sau khi nhận tiền của ông Nh, H Ly H không liên hệ lại với ông Y B hoặc tìm bất cứ ai để hỏi mua đồ bằng đồng như ông Nh yêu cầu mà dùng số tiền ông Nh đã đưa để tiêu xài cá nhân hết. Và để tiếp tục chiếm đoạt tiền của ông Nh thì H Ly H đưa ra nhiều thông tin không có thật như: “Người bán chưa đồng ý bán; trước khi bán thì người bán cần có tiền mua đồ để cúng đồ sẽ bán theo phong tục của người đồng bào; người nhà của người bán ốm, chết đang cần tiền chữa bệnh, làm đám ma và đưa ra lý do khác; người bán đòi giá cao hoặc không đồng ý bán vì có người khác cũng tìm mua và trả giá cao hơn”, để ông Nh tin là thật đưa thêm tiền rồi H Ly H chiếm đoạt. Vào ngày 09/4/2015, trong lúc đi chơi cùng bạn là anh Đinh Thanh Th (sinh năm: 1995), anh Nguyễn Đ Th1 (sinh năm: 1993), đều trú tại: Thôn 11, xã H, thành phố B và anh An Đăng Đ (sinh năm: 1992; trú tại: Thôn 8, xã H, thành phố B) tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, do hết tiền tiêu xài nên H Ly H sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu QSmart gọi điện thoại cho ông Nh nói dối là người bán (khi nói chuyện H Ly H thường nói người bán đồ mà ông Nh cần mua là “bà già
người đồng bào” hoặc “ông Ama M”) đang cúng chiếc nồi đồng, 05 ngày sau mới bán và họ cần gấp tiền để mua đồ cúng, đồng thời nói ông Nh đưa thêm tiền để H Ly H đưa cho người bán mua đồ cúng thì ông Nh đồng ý. Sau đó, H Ly H sử dụng chiếc điện thoại trên nhắn tin số tài khoản ngân hàng 0109092069 của anh Đinh Thanh Th đăng ký tại Ngân Hàng Đông Á cho ông Nh để ông Nh gửi tiền và ông Nh đã chuyển số tiền 7.000.000 đồng vào tài khoản ngân Hàng trên của anh Th, H Ly H đến trụ ATM rút hết số tiền này dùng vào việc tiêu xài ở thành phố N. Ngoài ra, để ông Nh tin tưởng thì H Ly H còn nói dối với ông Nh là: H Ly H cũng bỏ cả trăm triệu đồng để đặt cọc mua đồ cùng với ông Nh. Vào một ngày trong tháng 7/2015 (không rõ ngày cụ thể), tại quán cà phê Vị Đắng, trên đường M, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, H Ly H nói dối với ông Nh là bà già người đồng bào còn có 02 (hai) con trâu bằng đồng muốn bán nhưng đòi đưa thêm tiền, nếu không sẽ không bán cho H Ly H mà sẽ bán cho người khác. Ông Nh tin là thật nên nói H Ly H cố gắng thuyết phục mua bằng được, vì những đồ vật như H Ly H nói có giá trị rất lớn lên đến hàng trăm tỷ đồng, đồng thời hướng dẫn H cách thử hàng là: Mua một tấm kính rồi để ở gần 02 (hai) con trâu, nếu tấm kính bị rạn nứt thì đúng đó là đồ ông Nh cần mua. Sau đó, H Ly H về nhà lấy 01 (một) chiếc gương đã bị rạn nứt do con ruột của H Ly H là cháu Nguyễn Hoàng Gia T (sinh năm: 2011) nhặt được mang về để trong nhà, rồi hẹn gặp ông Nh tại siêu thị Siêu thị Coop.Mark B. Tại đây, H Ly H đưa cho ông Nh một phần của tấm kính trên và nói đây là tấm kính H Ly H đã dùng để thử 02 (hai) con trâu bằng đồng của bà già người đồng bào, thấy tấm kính bị rạn nứt nên ông Nh tin là thật và đưa cho H Ly H số tiền 15.000.000 đồng. Ngoài những lần trên, quá trình điều tra xác định trong khoảng thời gian từ tháng 4/2015 đến tháng 7/2015, ông Nh đã nhiều lần đưa tiền cho H Ly H để nhờ mua “đồng lạnh, đồng đổi màu” cho ông Nh, cụ thể: Tại khu vực trước cổng Bệnh viện Việt Đức, thuộc huyện C, tỉnh Đắk Lắk đưa số tiền 20.000.000 đồng; khu vực ngã 3 Ea Sim, Quốc lộ 27, thuộc xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk đưa 03 (ba) lần với tổng số tiền 25.000.000 đồng; khu vực Đồi thông (vỉa hè đường Quốc lộ 27) thuộc xã H, thành phố B đưa số tiền 20.000.000 đồng; khu vực Siêu thị Coop.Mark, phường T, thành phố B đưa số tiền 6.000.000 đồng; khu vực ngã tư 19/8, Quốc lộ 27 thuộc xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk đưa số tiền 9.000.000 đồng. Ngoài ra, ông Nh đã 03 (ba) lần gửi tiền nhân viên xe Buýt chạy tuyến chợ A, xã N, huyện C – Thành phố B rồi gọi điện thoại cho H Ly H đến lấy với tổng số tiền là 25.000.000 đồng (H Ly H không nhớ địa điểm cụ thể). Như vậy, tổng số tiền ông Nh đã đưa cho H Ly H để nhờ mua “đồng lạnh, đồng đổi màu” cho ông Nh là 147.000.000 đồng (một trăm bốn mươi bảy triệu đồng). Trong thời gian nhờ H Ly H mua những đồ vật có đặc điểm trên, ngoài việc nói những đồ vật nhờ H Ly H mua có giá trị rất cao thì ông Nh còn nói: Đồ vật ông Nh muốn mua là hàng cấm nên phải bí mật. Do đó, khi ông Nh hối thúc việc mua đồ cho ông Nh thì H Ly H lấy lý do: Cơ quan Công an phát hiện H Ly H mua bán hàng cấm nên triệu tập H Ly H cùng người có đồ cần bán đến làm việc và đưa nhiều thông tin gian dối khác để ông Nh tin là thật, nhằm mục đích trì hoãn việc ông Nh hối thúc mua đồ về giao cho ông Nh. Sau khi thấy H Ly H không mua được đồ vật theo yêu cầu, ông Nh đòi lại tiền và dọa trình báo vụ
việc đến Cơ quan Công an, thì H Ly H đã trả lại cho ông Nh được tổng số tiền 40.000.000 đồng, sau đó do H Ly H cố tình tránh né không trả hết số tiền còn lại nên ông Nh trình báo vụ việc đến Cơ quan điều tra yêu cầu xử lý H Ly H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đến năm 2018, H Ly H tiếp tục trả thêm cho ông Nh số tiền 5.000.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo H Ly H Byă phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14.
Xử phạt bị cáo H Ly H Byă 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015 để tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù tại bản án số 31/2024/HSST ngày 24/9/2024 của TAND thị xã Buôn Hồ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/02/2025, bị cáo H Ly H Byă kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H Ly H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm cũng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk khẳng định việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo H Ly H Byă về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và mức hình phạt 03 năm 06 tháng tù là thỏa đáng nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H Ly H Byă, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về mức hình phạt cũng như các quyết định khác của Bản án sơ thẩm.
Bị cáo H ly H không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2015 đến tháng 7/2015, lợi dụng việc ông Nguyễn Thế Nh có nhu cầu mua đồ dùng sinh hoạt được làm bằng đồng (đồ đồng lạnh, đồng đổi màu) của người dân tộc thiểu số để bán lại kiếm lời, nên bị cáo H Ly H Byă đã đưa ra nhiều thông tin gian dối về việc bị cáo H
Ly H Byă có khả năng mua được các đồ vật trên cho ông Nh, để ông Nh tin là thật và đưa tiền cho bị cáo H Ly H nhiều lần để nhờ mua đồ đồng lạnh, đồng đổi màu. Sau khi nhận tiền của ông Nh, bị cáo không mua được đồ đồng lạnh, đồng đổi màu mà chiếm đoạt luôn số tiền của ông Nh đã đưa với tổng số tiền 147.000.000 đồng.
Do đó, với hành vi nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo H Ly H Byă về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy:
Mức hình phạt 03 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H Ly H Byă là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi mà bị cáo đã thực hiện, bởi lẽ: hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương; mặc dù bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện và thực hiện nhiều lần, chiếm đoạt tài sản của bị hại với số tiền lớn 147.000.000 đồng là thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Mặt khác, khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách Nh hình sự mà bị cáo được hưởng; tại cấp phúc thẩm bị cáo cũng chưa bồi thường thêm số tiền còn lại cho bị hại và không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách Nh hình sự mới. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên giữ nguyên Bản án sơ thẩm về mức hình phạt.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định cảu pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H Ly H Byă – Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.
Tuyên xử:
[1]. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14.
Xử phạt bị cáo H Ly H Byă 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, cộng với hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2024/HSST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk, tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc bị cáo H Ly H
Byă phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
[2]. Về án phí: Bị cáo H Ly H Byă phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
* Nơi nhận:
|
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Y Phi Kbuôr |
Bản án số 90/2025/HSPT ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 90/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H Ly H Byă – Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.
