|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2025/HS-ST Ngày 14 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Châu Hồng Nga
- Bà Nguyễn Thị Kim Uyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành T, sinh năm 1993 tại tỉnh An Giang; thường trú: Số B, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1958 và bà Võ Thị Kim L, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ con; có 03 anh, chị, lớn nhất đã chết, nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty cổ phần G; trụ sở: Tòa nhà VTV, số H P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đàn Trần Bảo D, sinh năm 2000; địa chỉ: Số B C, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1958; địa chỉ: Số B, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Lê Thị Mỹ T1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành T ký hợp đồng dịch vụ số MN.659298-1/2022/HĐDV ngày 08/07/2022 với Công ty cổ phần G, địa chỉ Tòa nhà VTV, số H, P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội. T làm nhân viên giao hàng tại kho địa chỉ số E, đường H, khu phố T, phường T, thành phồ D, tỉnh Bình Dương. Công việc hàng ngày của T là nhận đơn hàng tại kho, đi giao hàng, nhận tiền từ khách hàng về nộp lại cho Công ty. Ngày 27/11/2022, T nhận 66 đơn hàng từ nhân viên Lê Thị Mỹ T1 (trong đó có 62 đơn hàng mới và 04 đơn hàng của ngày 26/11/2022 còn tồn chưa giao cho khách hàng). Sau khi nhận các đơn hàng, T đi giao hàng, đến chiều ngày 27/11/2022, T đã giao được 40 đơn hàng, trong đó có 02 đơn hàng giao không thu tiền do khách thanh toán trước còn 38 đơn hàng thu được số tiền 19.766.800 đồng và 26 đơn hàng chưa giao được cho khách hàng. Hết ca giờ làm T không về công ty để thanh toán số tiền 19.766.800 đồng và trả lại 26 đơn hàng mà bỏ trốn để chiếm đoạt. Không thấy T đến công ty nộp tiền thu của khách hàng và bàn giao hàng chưa giao trong ngày nên chị Lê Thị Mỹ T1 liên hệ gọi điện nhưng T không trả tiền, hàng cho công ty, công ty nhiều lần liên lạc và yêu cầu T đến giải quyết vụ việc nhưng T không đến nên trình báo sự việc cho cơ quan công an.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 165/BBĐG-HĐĐGTS ngày 02/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự xác định 26 đơn hàng có tổng trị giá 12.300.000 đồng. Tổng số tiền, hàng T chiếm đoạt có giá trị số tiền là 32.066.800 đồng.
Ngày 10/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố D, tỉnh Bình Dương khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị cáo để tạm giam. Ngày 06/9/2024, Nguyễn Thành T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam để điều tra cho đến nay.
Cáo trạng số 69/CT-VKS-DA ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 353; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần G yêu cầu bồi thường số tiền 28.270.800 đồng, ông Nguyễn Thanh S là cha bị cáo Nguyễn Thành T đã bồi thường số tiền 28.270.800 đồng. Bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ có đủ căn cứ xác định: Ngày 27/11/2022, Nguyễn Thành T lợi dụng là nhân viên giao hàng sau khi nhận 66 đơn hàng (trong đó có 62 đơn hàng mới và 04 đơn hàng của ngày 26/11/2022 còn tồn chưa giao cho khách hàng) tại kho của Công ty cổ phần G địa chỉ số E, đường H, khu phố T, phường T, thành phồ D, tỉnh Bình Dương. T đi giao hàng, đến chiều ngày 27/11/2022, đã giao được 40 đơn hàng, trong đó có 02 đơn hàng giao không thu tiền (khách thanh toán trước) còn 38 đơn hàng thu được số tiền 19.766.800 đồng và 26 đơn hàng chưa giao được cho khách hàng, T không về Công ty thanh toán mà chiếm đoạt bỏ trốn, tài sản chiếm đoạt có tổng giá trị số tiền là 32.066.800 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tham ô tài sản quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 69/CT-VKS-DA ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục thiệt hại cho bị hại; bị cáo đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
- Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
- Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Tham ô tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 353; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2024.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
Bản án số 90/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tham ô tài sản)
- Số bản án: 90/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
