Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 90/2025/DS-PT

Ngày: 03 - 3 - 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh

Ông Đặng Minh Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 562/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 254/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966 (có mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, Cà Mau.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm: 1966.
  • Địa chỉ: Số A, đường N, khóm E, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Hồ Thanh P, sinh năm 1963 (có mặt).
  • Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  • Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H, là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 5 năm 2023 của bà Nguyễn Thị H, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và ông P sống chung với nhau như vợ chồng vào ngày 29/7/2018 tại nhà ông P ở ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau, bà có trình báo chính quyền địa phương và được chính quyền địa phương xác nhận. Thời gian sống chung là 04 năm (từ năm 2018 đến ngày 20/4/2021), không có con chung. Quá trình sống chung với nhau ông P có hỏi mượn tiền của bà 200.000.000 đồng để trả nợ vay Ngân hàng N, chi nhánh huyện P; bà cho ông Hồ Thanh P mượn 200.000.000 đồng (bà không nhớ ngày tháng năm), khi đưa ông P tiền bà không yêu cầu ông P làm biên nhận. Khi ông P lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đưa cho bà giữ được 11 ngày thì bà đưa lại cho ông P. Sau khi đưa ông P tiền để trả nợ cho Ngân hàng thì bà có yêu cầu ông P làm biên nhận nhưng ông P không viết biên nhận, sau đó bà mới ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà với ông P tại nhà ông P (bà không nhớ ngày tháng năm ghi âm) với mục đích để làm bằng chứng bà có cho ông P mượn 200.000.000 đồng. File ghi âm và trích nội dung ghi âm bà đã cung cấp cho Tòa. Nay bà yêu cầu ông Hồ Thanh P trả 200.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Ngoài ra, bà còn cho ông P mượn thêm 47.000.000 đồng (trong đó đưa trực tiếp là 30.000.000 đồng, 17.000.000 đồng chuyển qua bưu điện), ông P có mượn bà mua giùm 01 máy tính xách tay trị giá 12.900.000 đồng. Tổng cộng ông P còn nợ bà 259.900.000 đồng.

Tại biên bản hòa giải ngày 06/6/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm bà thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu ông P trả cho bà 200.000.000 đồng, số tiền còn lại 59.900.000 đồng không yêu cầu.

- Quá trình giải quyết vụ án ông Hồ Thanh P trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị H sống chung với nhau như vợ chồng vào tháng 4/2020. Lúc hai người sống chung với nhau ông không có báo chính quyền địa phương. Đến tháng 11 năm 2022 thì ông và bà H không còn sống chung. Ông không mượn của bà H 200.000.000 đồng. Ông có vay tiền của Ngân hàng N 200.000.000 đồng vào năm 2019 và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trả tiền năm 2020. Tiền trả nợ Ngân hàng là do ông làm vuông và con gái ông đưa để trả nợ vay Ngân hàng (con gái ông tên Hồ Ngọc H1 đưa cho ông 120.000.000 đồng) và bà Lê Thị M cho ông 40.000.000 đồng. Ông không có mượn tiền của bà H 200.000.000 đồng nên ông không đồng ý trả tiền cho bà H.

Quá trình chung sống, bà H có cho ông 01 sợi dây chuyền và 01 chiếc lắc. Đến ngày 22/11/2022 ông đã trả cho bà H 01 sợi dây chuyền vàng 18k và 01 chiếc lắc vàng 18k, bà H có viết cam kết có nội dung “Tôi đã nhận đầy đủ, ngoài ra ông Hồ Thanh P không còn thiếu tôi vật chất hay tiền bạc”. Đến tháng 5/2023, bà H khởi kiện yêu cầu ông trả cho bà 200.000.000 đồng là không đúng, vì tháng 11/2022 bà H viết cam kết ông không còn nợ bà H vật chất hay tiền bạc gì nữa.

Cụ thể năm 2021, 2022 bà H nhiều lần bàn với ông ý muốn có nền nhà để mua bán, bà H nói về nhà bà đem 200.000.000 đồng xuống đưa ông mua nền nhà hỏi bà đồng ý không, đây là công chuyện làm ăn nên ông mới đồng ý. Đến ngày 30/6/2021, bà H có đưa ông 20.000.000 đồng kêu ông đi chồng tiền đặt cọc để mua nền nhà của ông Trần Thanh T và hẹn với ông T 03 tháng sau bà H đem tiền xuống trả đủ, khi bà H về không có tiền và ông đến nhà ông T lấy lại tiền cọc thì ông T không trả. Đối với file ghi âm, ông cho rằng nội dung file ghi âm là bàn tính để mua nền nhà nhưng bà H nộp cho Tòa thì file ghi âm đã cắt mất một phần còn phần có lời nói của ông là mua nền nhà thì mất hết. Ông khẳng định file ghi âm đã bị cắt ghép nên ông yêu cầu giám định file ghi âm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 254/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đã quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H yêu cầu ông Hồ Thanh P trả cho bà 200.000.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, bà Nguyễn Thị H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết của bà Nguyễn Thị H tại “Tờ cam kết”, “Biên nhận” ở trang 4 (trang cuối cùng).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn, bà H và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày: Bà H giữ nguyên nội dung kháng cáo. Căn cứ kháng cáo: Kết quả giám định giọng nói của ông P không có nội dung cắt ghép, từ đó xác định ông P có thiếu bà H 200.000.000đ; bà H không ký tên vào “Tờ cam kết”, không viết, không ký nội dung “Biên nhận” sau “Tờ cam kết”, do đó yêu cầu giám định chữ ký tên.

- Bị đơn, ông P trình bày: Không đồng ý với kháng cáo của bà H, ông P không mượn tiền của bà H, ông P trả tiền Ngân hàng trước khi chung sống với bà H; bà H có tặng vàng và laptop, ông P đã trả lại và bà H có ký tên nhận lại tài sản.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng.

  1. Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị H nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Hồ Thanh P trả 200.000.000 đồng mà bà H cho ông P mượn; bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện; bà H kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết của bà Nguyễn Thị H tại “Tờ cam kết”, “Biên nhận” ở trang 4 (trang cuối cùng).
  3. Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị H

Qua xem xét toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ, thể hiện lời trình bày của bà H là vào tháng 7 năm 2020 bà cho ông P mượn 200.000.000đ để trả tiền vay Ngân hàng; ông P không thừa nhận; nhận thấy khởi kiện của bà H không có căn cứ, bởi lẽ:

  1. Theo bà H trình bày, thì bà và ông P có quan hệ tình cảm và sống chung như vợ chồng; ông P xác nhận hai người chung sống từ tháng 4/2020, trong khi đó ông P trả nợ Ngân hàng tháng 02/2020, trả trước khi sống chung với bà H; bà H xác nhận sống chung từ năm 2018, nhưng bà H không đưa ra được căn cứ chứng minh là hai đương sự sống chung từ năm 2018, sống chung trước khi ông P trả tiền vay Ngân hàng.
  2. Bà H khai, tiền cho ông P mượn từ nguồn tiền bán quyền sử dụng đất vào tháng 7 năm 2020; trong khi đó ông P đã thanh toán cho Ngân hàng vào ngày 07/02/2020, ông P đã tất toán cho Ngân hàng trước khoảng 05 tháng so với thời gian mà bà H cho rằng cho ông P mượn tiền.
  3. “Tờ cam kết” đề ngày 21/11/2022 có nội dung: Khi tôi chung sống với ông P, tôi có tặng cho ông P một sợi dây chuyền 01 lượng vàng 18k và một tấm lắc 01 lượng vàng 18k, hôm nay tôi đã nhận lại đầy đủ.
  4. T1 sau của “Tờ cam kết” có ghi biên nhận, có nội dung: Tôi tên Nguyễn Thị H, vào lúc 10 giờ đêm ngày 22 tháng 11 có nhận anh P đầy đủ số vàng và không thiếu tiền bạc.
  5. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 27/9/2024, bà H trình bày: Tờ cam kết do ông P viết, bà H ký tên; bà H có nhận vàng của ông P (bút lục 160, 162). Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H trình bày nếu không ký tên thì ông P không giao trả vàng.
  6. Qua đó cho thấy bà H thừa nhận có nhận vàng từ ông P; biên nhận do bà H viết là ông P không còn thiếu tiền bạc gì hết. Như vậy, biên nhận do bà H viết, ký tên và “Tờ cam kết” bà H ký tên; do đó, bà H yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký tên là không cần thiết.
  7. Biên bản hòa giải của Ban N1 ngày 01/6/2023, nội dung biên bản thể hiện bà H yêu cầu ông P hoàn trả lại cho bà một laptop và 3.000.000đ; nhận thấy, nếu như ông P còn thiếu bà 200.000.000đ thì tại sao bà không yêu cầu hòa giải, giải quyết.
  8. Nội dung dịch từ file ghi âm bà H cung cấp trong hồ sơ cũng không thể hiện nội dung ông P mượn của bà H 200.000.000đ để trả nợ Ngân hàng.

[4] Từ nhận định trên, do bà H không đưa ra được căn cứ để chứng minh bà H cho ông P mượn 200.000.000đ, bản án sơ thẩm nhận định và quyết định là có căn cứ pháp luật; do đó, không chấp nhận kháng cáo của bà H như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm, bà H phải chịu theo quy định.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 254/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H yêu cầu ông Hồ Thanh P trả cho bà số tiền 200.000.000 đồng.
  2. Chi phí tố tụng: Chi phí giám định file ghi âm là 9.204.000 đồng, ông Hồ Thanh P phải chịu, ông P đã nộp tạm ứng 9.204.000 đồng, được đối trừ.
  3. Về án phí
    • 3.1- Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 10.000.000 đồng bà Nguyễn Thị H phải chịu. Bà H đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 6.498.000 đồng tại Biên lai số 0018913 ngày 15/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân được đối trừ, bà H còn phải nộp tiếp số tiền 3.502.000 đồng.
    • 3.2- Án phí phúc thẩm: bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ; bà H dự nộp 300.000đ tại biên lai số 0003844 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu án phí.
  4. Các Quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - TAND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Nguyễn Thị Hiền

THÀNH VIÊN HĐXX PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Trung – Đỗ Cao Khánh

Nguyễn Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 90/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà H yêu cầu ông P trả cho bà 200.000.000 đồng, ông P trình bày không có mượn tiền của bà H 200.000.000 đồng nên ông không đồng ý trả tiền cho bà H. Bà H kháng cáo yêu cầu chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà. Cấp phúc thẩm giữu nguyên án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger