Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/HS-ST

Ngày: 24-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Tâm
  2. Ông Nguyễn Văn Phòng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Mùi – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 09/02/1989 tại tỉnh Long An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 209/23, Quốc lộ A, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An; Nơi tạm trú (Chỗ ở): H L, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm: 1964 và bà Phan Thị Thu C, sinh năm: 1967; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chồng: Nguyễn Hữu N1, sinh năm: 1986; con: Nguyễn Mai A, sinh năm: 2016 và Nguyễn Thương N2, sinh năm: 2017; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/9/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Sơn Thái T, sinh ngày 01/01/1980 tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (Chỗ ở): Khóm A, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; giới tính: Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 03/12; con ông Sơn Thái S, sinh năm: 1951 (đã chết) và bà Chương Thị Đ, sinh năm: 1952; gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; vợ: Mai Thị Đ1, sinh năm: 1972; con: Sơn Hạo N3, sinh năm: 2006; Sơn Triệu M, sinh năm: 2007 và Sơn Diễm N4, sinh năm: 2009; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/9/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trần Văn H, sinh năm: 1968 (đã chết trong tai nạn)

Hộ khẩu thường trú: Khóm D, thị trấn H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • Bà Phan Thị Đ2, sinh năm: 1974 (vợ bị hại); vắng mặt;
  • Anh Trần Văn L, sinh năm: 1993 (con bị hại); vắng mặt;
  • Anh Trần Thế H1, sinh năm: 1996 (con bị hại); vắng mặt;
  • Anh Trần Văn H2, sinh năm 2004 (con bị hại); vắng mặt;

Cùng địa chỉ: Khóm D, thị trấn H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn Đ3, sinh năm: 2005; vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1975; vắng mặt.

Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Địa chỉ liên lạc: A M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

  1. Ông Nguyễn Hữu N1, sinh năm: 1986, địa chỉ: 1 khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
  2. Cháu Nguyễn Mai A, sinh năm: 2016
  3. Cháu Nguyễn Thương N2, sinh năm: 2017;

Người đại diện hợp pháp của cháu A và cháu N2 là ông Nguyễn Hữu N1 (cha đẻ của cháu A và cháu N2).

  1. Ông Lê Minh L1, địa chỉ: L, Lục Sĩ T2, huyện T, Vĩnh Long; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 04/11/2023, Nguyễn Huỳnh N điều khiển xe mô tô biển số 59G1-817.85 phía sau chở chồng là anh Nguyễn Hữu N1 cùng 02 con là cháu Nguyễn Mai A (sinh năm 2016) và cháu Nguyễn Thương N2 (sinh năm 2017) lưu thông trên đường M hướng từ hầm vượt sông S về đường V. Khi lưu thông đến giao lộ M - T, Như không dừng xe làn rẽ trái mà dừng xe làn trong cùng bên phải. Khi đèn tín hiệu giao thông chuyển màu xanh, Như bắt đầu đi vào giao lộ và muốn chuyển hướng vào đường T nên mở đèn xi nhan chuyển hướng qua phía bên trái để rẽ vào đường T Lúc này, Sơn Thái T, không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô biển số 94B1-141.20 (dung tích xi lanh 97cm³) phía sau chở ông Trần Văn H đang lưu thông theo hướng đi thẳng, khi vào đến giữa giao lộ thì va chạm vào bên trái xe mô tô biển số 59G1-817.85 do N điều khiển làm xe của T ngã trái xuống mặt đường. Cùng lúc này xe mô tô biển số 64F1-298.64 do Nguyễn Văn Đ3 điều khiển lưu thông phía sau cùng chiều xử lý không kịp nên va chạm vào bên phải vào xe mô tô biển số 59G1-817.85 do Như điều khiển làm hai xe ngã xuống đường. Hậu quả sau tai nạn ông Trần Văn H tử vong do đa chấn thương; Nguyễn Huỳnh N bị gãy đầu dưới xương cẳng chân phải; Nguyễn Văn Đ3 bị chấn thương đầu; Sơn Thái T bị gãy xương đòn trái, gãy xương ngón bàn chân phải; anh N1, cháu A và cháu N2 bị thương nhẹ; 03 xe mô tô bị hư hỏng.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu:

  • Nồng độ cồn: anh Nguyễn Văn Đ3, Sơn Thái T, Nguyễn Huỳnh N có kết quả: Âm tính.

Kết quả giám định dấu vết va chạm

Giám định dấu vết: Kết luận giám định số 7745/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau:

  • Dấu vết bên phải xe mô tô biển số 94B1-141.20 (bể vỡ cung chắn gió; bể vỡ ốp lốc máy; biến dạng gác chân trước; trượt xước chân đạp phanh) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết bên trái xe mô tô biển số 59G1-817.85 (bể vỡ sàn để chân trước; trượt xước bể vỡ ốp lốc máy) có chiều từ sau về trước. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.
  • Dấu vết bên trái xe mô tô biển số 64F1-298.64 (trượt xước má lốp bánh trước; trượt xước, biến dạng cần số trước và gác chân trước) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết bên phải xe mô tô biển số 59G1-817.85 (trượt xước, bể vỡ sàn để chân trước) có chiều từ sau về trước. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.
  • Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 94B1-141.20 với xe mô tô biển số 64F1-298.64.
  • Dấu vết trượt xước các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 94B1-141.20 (má lốp bánh trước, đầu tay lái, gác chân trước, gác chân sau) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với mặt đường.
  • Dấu vết trượt xước các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 59G1-817.85 (gác chân sau, chân chống đứng) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với mặt đường.
  • Dấu vết trượt xước các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 64F1-298.64 (đầu tay lái, ốp nhựa đầu xe, tay nâng yên) có chiều từ trước về sau, phù hợp va chạm với mặt đường.
  • Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 94B1-141.20 với xe mô tô biển số 59G1- 817.85 và giữa xe mô tô biển số 64F1-298.64 với xe mô tô biển số 59G1- 817.85 chiếu xuống mặt đường nằm tại giao lộ đường M và đường T
  • Xe mô tô biển số 94B1-141.20 va chạm với xe mô tô biển số 59G1-817.85 trước, sau đó xe mô tô biển số 64F1-298.64 va chạm với xe mô tô biển số 59G- 1817.85.
  • Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 94B1-141.20, xe mô tô biển số 59G1-817.85 và xe mô tô biển số 64F1-298.64 với phương tiện khác. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô biển số 94B1-141.20, xe mô tô biển số 59G1-817.85 và xe mô tô biển số 64F1-298.64.

Tại Công văn phúc đáp số 525/C09B ngày 26/4/2024 của phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

Khi xảy ra tai nạn giao thông, xe mô tô BS 94B1-141.20 va chạm với xe mô tô BS 59G1- 817.85 làm xe mô tô BS 94B1-141.20 ngã trái xuống mặt đường, sau đó xe mô tô 64F1- 298.64 va chạm với xe mô tô BS 59G1- 817.85 làm hai xe ngã trái xuống mặt đường.

Tại thời điểm va chạm xe mô tô BS 59G1- 817.85 chuyển động trên đường M hướng từ hầm sông S đi giao lộ M với đường T, xe mô tô BS 94B1-141.20 và xe mô tô BS 64F1-298.64 chuyển động cùng chiều phía sau xe mô tô BS 59G1- 817.85.

Pháp y tử thi: Ngày 05/11/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T ra Quyết định trưng cầu Phòng K3 Công an Thành phố H giám định pháp y tử thi ông Trần Văn H. Theo kết luận tại Kết luận giám định tử thi số 12441-23/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K3 Công an Thành phố H về nguyên nhân chết: Trần Văn H3 chết do đa chấn thương, trong máu không tìm thấy cồn và ma túy.

Vật chứng thu giữ:

  • Bản chính Giấy phép lái xe số AC022985 hạng A1, họ tên Nguyễn Huỳnh N (lưu cùng hồ sơ vụ án);
  • Xe mô tô biển số 59G1-817.85, hiệu Honda Airblade, màu đen xám, số máy: JF46E7021766, số khung: JF4612EZ321986 của anh Nguyễn Hữu N1 đứng tên chủ sở hữu, có giấy tờ hợp lệ. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả giấy tờ xe và xe mô tô biển số 59G1-817.85 cho anh Nguyễn Hữu N1.
  • Xe mô tô biển số 94B1-141.20, hiệu Honda Wavde, màu xám đen bạc, số máy: C12E5148725, số khung: 1212DY148597 của ông Trần Văn H đứng tên chủ sở hữu, có giấy tờ hợp lệ. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả giấy tờ xe và xe mô tô biển số 94B1-141.20 cho gia đình ông Trần Văn H.
  • Xe mô tô biển số 64F1-298.64, hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen, số máy: E3X9E150419, số khung: 3240HY058721 của anh Lê Minh L1 (sinh năm 1993; Nơi thường trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long) anh rễ Nguyễn Văn Đ3 đứng tên chủ sở hữu, có giấy tờ hợp lệ. Đầy mua lại trên mô tô trên. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả giấy tờ xe và xe mô tô biển số 64F1-298.64 cho anh Nguyễn Văn Đ3.

Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn Đ3 đã bồi thường tiền mai táng cho gia đình bị hại Trần Văn H 50.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Huỳnh N đã bồi thường tiền mai táng cho gia đình bị hại Trần Văn H 30.000.000đ. Bà Phan Thị Đ2 (vợ bị hại) và các con của bị hại Trần Văn H làm đơn bãi nại cho anh Đ3, bị cáo N bị cáo T, cam kết không có thắc mắc khiếu nại gì về vụ tai nạn giao thông đường bộ trên.

Anh Nguyễn Văn Đ3, bị cáo Nguyễn Huỳnh N, bị cáo Sơn Thái T làm đơn từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu gì khác.

Cáo trạng số 66/CT-VKSTPTĐ ngày 15/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Sơn Thái T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Sơn Thái T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, có xác nhận của chính quyền của địa phương; bị cáo T là người dân tộc Khmer, gia đình thuộc hộ nghèo, cận nghèo; cha vợ của bị cáo là người có công với cách mạng (ông Mai Văn T3 (H) được tặng Huân chương độc lập hạng 3); con trai của bị cáo đang tham gia nghĩa vụ quân sự năm 2025. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm; xử phạt bị cáo Sơn Thái T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét thêm; Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T đã xử lý xong; các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ ăn năn, hối cải và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội đi làm, chăm sóc gia đình, nuôi dạy các con.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu N1 trình bày: Ông là chồng của bị cáo N, trong vụ án này không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì, số tiền 30.000.000 đồng để bồi thường cho gia đình bị hại là tài sản chung của ông và bị cáo N, rủi ro xảy ra là điều không mong muốn, bản thân ông thường xuyên thăm hỏi gia đình bị hại kể từ sau khi xảy ra tai nạn đến nay, ông mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo vì hiện nay các con của ông và bị cáo N còn nhỏ, đều là con gái nên rất cần sự chăm sóc của mẹ. Đối với bị cáo T ông cũng tìm hiểu và biết bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhà bị cáo rất nghèo, bị cáo lên thành phố để làm thợ hồ nên hoàn cảnh cũng rất đáng thương, mong Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tư cách đương sự: Qua xác minh, xác định cha mẹ của bị hại là ông Trần L2, bà Trần Thị H4 đều đã chết (bút lục 120) nên Tòa án triệu tập vợ và con của bị hại là bà Phan Thị Đ2, anh Trần Văn L, anh Trần Thế H1, anh Trần Văn H2 tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị hại.

Bị cáo Sơn Thái T là người dân tộc thiểu số thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải thích và hướng dẫn thực hiện quyền được trợ giúp pháp lý nhưng bị cáo T đã từ chối và tại phiên tòa bị cáo T cũng không yêu cầu thực hiện quyền này (bút lục 240).

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trừ ông Nguyễn Hữu N1) vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt của người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và quyền lợi của họ nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Huỳnh N, Sơn Thái T tại phiên tòa phù hợp với nội dung: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông; các Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Bản kết luận giám định tử thi số 12441-23/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K3 Công an Thành phố H; Kết luận giám định số 4028/KL-KTHS ngày 27/5/2023 của P Bộ C1; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đã đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 04/11/2023, tại giao lộ đường M và đường T xảy ra va chạm giữa xe mô tô biển số 59G1-817.85 do Nguyễn Huỳnh N có giấy phép lái xe mô tô theo quy định điều khiển và xe mô tô BS 94B1- 141.20 do Sơn Thái T điều khiển phía sau chở ông Trần Văn H làm ông H ngã xuống đường tử vong do đa chấn thương. Nguyên nhân xảy ra tai nạn do Nguyễn Huỳnh N có lỗi điều khiển xe mô tô biển số 59G1-817.85 không chấp hành báo hiệu đường bộ (vạch kẻ đường mũi tên), không tuân thủ đèn tín hiệu giao thông, rẽ trái không đúng quy định, chở quá số người quy định; Sơn Thái T không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô biển số 94B1-141.20 lưu thông đi vào giao lộ không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn, không giảm tốc độ để xe va chạm vào bên trái xe mô tô biển số 59G1- 817.85 do Như điều khiển. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Huỳnh N đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và hành vi nêu trên của bị cáo Sơn Thái T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Sơn Thái T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất của vụ án:

Bị cáo Nguyễn Huỳnh N điều khiển xe mô tô 2 bánh, có giấy phép lái xe là đúng quy định. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ những nguy hiểm có thể xảy ra khi không tuân thủ nghiêm các quy định của Luật giao thông đường bộ. Nhưng vì chủ quan, không lường trước được hậu quả, ý thức tôn trọng tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tham gia giao thông khác kém nên các bị cáo đã gây ra tai nạn. Hành vi của Nguyễn Huỳnh Như K1 chấp hành báo hiệu đường bộ (vạch kẻ đường mũi tên), không tuân thủ đèn tín hiệu giao thông, rẽ trái không đúng quy định, chở quá số người quy định vi phạm Điều 11, Điều 13 và Điều 30 và bị cáo Sơn Thái T không giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô 02 bánh, lưu thông đi vào giao lộ không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn, không giảm tốc độ để xe va chạm vào bên trái xe mô tô do Như điều khiển là vi phạm khoản 9 Điều 8 và Điều 24 Luật giao thông đường bộ năm 2008, Văn bản hợp nhất Luật giao thông đường bộ số 15/VBHN-VPQH ngày 05/7/2019 của Văn phòng Quốc hội và phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Hành vi không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn làm chết một người do bị cáo Nguyễn Huỳnh N và Sơn Thái T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hệ thống các quy định về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ và an toàn tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, cũng xét: Các bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo trong suốt quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa; có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; sau tai nạn, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, có xác nhận của chính quyền của địa phương; bị cáo T là người dân tộc thiểu số (K2), gia đình thuộc hộ nghèo, cận nghèo; cha vợ của bị cáo ông Mai Văn T3 (H) là người có công với cách mạng được tặng Huân chương độc lập hạng 3); con trai của bị cáo đang tham gia nghĩa vụ quân sự năm 2025. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy trong thời gian từ khi tại ngoại cho đến nay, các bị cáo chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước tại địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới, có khả năng tự cải tạo. Việc không cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian không làm ảnh hưởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phương, cần tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo sửa chữa lỗi lầm của mình dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương.

Với nhận định như trên và theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo Nguyễn Huỳnh N và Sơn Thái T đủ điều kiện được hưởng án treo và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Do đó, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với Nguyễn Văn Đ3 (sinh ngày 13/11/2005) chưa đủ tuổi lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe lưu thông vào giao lộ không giữ khoảng cách an toàn, không giảm tốc độ đụng vào bên phải xe mô tô biển số 59G1-817.85, vi phạm khoản 9 Điều 8 và Điều 24 Luật giao thông đường bộ. Tuy nhiên, hành vi của Đ3 chưa gây hậu qủa nghiêm trọng, không có lỗi trong việc ông Trần Văn H tử vong. Do đó, hành vi của Đ3 là lỗi vi phạm hành chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Đ3, không xử lý hình sự là có căn cứ (bút lục 275).

[ 5] Về trách nhiệm dân sự:

Như đã nhận định ở phần [4], bị cáo N, bị cáo T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu N1, anh Nguyễn Văn Đ3, ông Nguyễn Văn T1 (cha đẻ của Nguyễn Văn Đ3) đã bồi thường cho gia đình bị hại theo Biên bản giải quyết phần dân sự tại nạn giao thông ngày 29/12/2023 và ngày 01/01/2024. Theo đó, xác định bị cáo N và anh N1 bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng (đã thực hiện xong); anh Nguyễn Văn Đ3 bồi thường số tiền 50.000.000 đồng (đã thực hiện xong); bị cáo T bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (đã thực hiện xong). Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét (bút lục 107-110).

[6] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

  • 01 USB chứa video ghi lại diễn biến vụ tai nạn, đây là tài liệu liên quan đến vụ án nên lưu hồ sơ vụ án.
  • Trả lại cho bị cáo Như bản chính Giấy phép lái xe số AC022985 hạng A1, họ tên Nguyễn Huỳnh N;
  • Xe mô tô biển số 59G1-817.85, hiệu Honda Airblade, màu đen xám, số máy: JF46E7021766, số khung: JF4612EZ321986 do anh Nguyễn Hữu N1 đứng tên đăng ký xe nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả giấy tờ xe và xe mô tô biển số 59G1-817.85 cho anh N1 là có căn cứ.
  • Xe mô tô biển số 94B1-141.20, hiệu Honda Wavde, màu xám đen bạc, số máy: C12E5148725, số khung: 1212DY148597 do ông Trần Văn H đứng tên đăng ký xe. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả giấy tờ xe và xe mô tô biển số 94B1-141.20 cho gia đình ông H là có căn cứ.
  • Xe mô tô biển số 64F1-298.64, hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen, số máy: E3X9E150419, số khung: 3240HY058721. Qua xác minh xe xe mô tô biển số 64F1-298.64 do anh Lê Minh L1 (sinh năm 1993; Nơi thường trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long) đứng tên đăng ký xe, anh Đ3 xác nhận năm 2021 anh L1 đã bán xe này cho em vợ là Nguyễn Văn Đ3 nhưng không làm thủ tục sang tên. Anh L1 không có yêu cầu gì trong vụ án này. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả giấy tờ xe và xe mô tô biển số 64F1-298.64 cho anh Nguyễn Văn Đ3.

[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo T là người dân tộc thiểu số; gia đình là hộ nghèo, cận nghèo và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên được miễn nộp tạm ứng án phí/án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh N, Sơn Thái T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh N 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Huỳnh N cho Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố T, tỉnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo N có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Sơn Thái T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Sơn Thái T cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt trước của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2021:

  • Trả lại bản chính Giấy phép lái xe số AC022985 hạng A1 cho bị cáo Nguyễn Huỳnh N;
  • Lưu hồ sơ 01 USB chứa video ghi lại diễn biến vụ tai nạn.

4. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc:

  • Bị cáo Nguyễn Huỳnh N phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sơn Thái T.

5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Đã giải thích chế định án treo.

Nơi nhận:

  • - TANDTP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - VKSND TP HCM;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 90/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạt tù cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger