|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA Bản án số: 90/2025/HSST Ngày: 17/02/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Trịnh Xuân Tính
Ông Nguyễn Hồng Vân
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST- HS ngày 24 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2025/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 ; Quyết định hoãn phiên toà số 28/2025/HSST-QĐ ngày 15/01/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 32/2025/HSST-QĐ ngày 23/01/2025 đối với bị cáo:
Thào A S, sinh ngày 14/4/1995; Tại huyện B, tỉnh Sơn La;
Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Bản X, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A C, sinh năm 1969 và bà Mùa Thị C1, sinh năm 1969; có vợ: Cư Thị C2, sinh năm 2000; có 02 con: Con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2018;
Tiền án: Ngày 01/02/2024 bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 06 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tiền sự: không.
Hiện bị cáo đang chấp hành án phạt tù của Bản án số 56/2024/HSST ngày 01/02/2024 của TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tại phân trại số D, Trại giam T2, thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nên không áp dụng biện pháp ngăn chặn. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (có mặt)
Địa chỉ: Số C, Đại lộ L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
- Anh Lê Chí T1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B N, phường Đ, TP T, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Lê Minh C3, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Trình Quốc Đ, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu L thuộc phân trại số 4, Trại giam Thanh Phong xã T2, huyện Đ (nay là thành phố T), tỉnh Thanh Hóa.
- Hoàng Kỳ A, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu L thuộc phân trại số 4, Trại giam Thanh Phong xã T2, huyện Đ (nay là thành phố T), tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 27/11/2024, tại Khu lao động, hướng nghiệp, dạy nghề H, Trại giam T2 thuộc Cục Q, Cơ sở giáo dục bắt buộc, Trường G ở thôn H, xã Đ, huyện Đ (nay là TP .), tỉnh Thanh Hóa, sau khi hết giờ nghỉ trưa. Cán bộ Công an quản giáo là Lê Chí T1 tiếp nhận phạm nhân Thào A S cùng 36 phạm nhân khác đang chấp hành án tại đây để đưa ra khu vực lao động. Khi tham gia lao động các phạm nhân được cán bộ quản giáo T1 phân công lao động theo nhóm tại các vị trí khác nhau trong khu lao động, trong đó phạm nhân S được phân công bốc, xếp ở sân trước xưởng sản xuất gạch cùng với hai phạm nhân khác là Hoàng Kỳ A và Trình Quốc Đ. Ba phạm nhân S, A và Đ xếp gạch đến khoảng 17 giờ 15 thì cán bộ quản giáo T1 hô thông báo dừng, xếp hàng để vào khu giam giữ. Phạm nhân Sang cùng tất cả phạm nhân đang lao động ở đây dừng lao động đi vào vị trí xếp hàng. Lúc này S thấy các phạm nhân khác đi lại, xếp hàng lộn xộn, nên đã trốn ra bờ tường gần đó và trèo lên đống gạch để sát tường rồi trèo qua tường trốn khỏi khu lao động. Sau khi trốn, S men theo đường ruộng, đi vào các đường không có người, đến đêm thì ngủ ở trong ống cống. S sau khi bỏ trốn đã đi qua địa phận các xã Đ, xã Đ, huyện Đ (nay là TP .), tỉnh Thanh Hóa và phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa. Nhận thức việc bỏ trốn khỏi nơi giam là vi phạm pháp luật nên đến 6 giờ 30 ngày 28/11/2024, khi đi qua Sư đoàn C4 ở phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa, S đã vào và xin đầu thú, khai nhận việc bỏ trốn khỏi nơi giam. Sau đó S được Trại giam T2 đến đưa về trại giam để tiếp tục thi hành án.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS-HS ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá), tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Thào A S về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Thào A S từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Tổng hợp hình phạt: Bị cáo đang chấp hành án tại bản án số 56/2024/HSST ngày 01/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, thời hạn chấp hành án phạt tù là 06 năm, tính từ ngày 07/12/2023 theo Quyết định Thi hành án phạt tù số 84/2024/QĐ-CA ngày 05/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tính đến ngày xét xử (ngày 17/02/2025) và trừ đi 01 ngày bị cáo bỏ trốn (ngày 27/11/2024), bị cáo đã chấp hành hình phạt tại bản án trên được 14 tháng 09 ngày. Do đó, tổng hợp hình phạt còn lại 04 năm 09 tháng 21 ngày tù chưa chấp hành án của Bản án số 56/2024/HSST ngày 01/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 06 năm 21 ngày đến 06 năm 03 tháng 21 ngày, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/02/2025.
- Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của Người bào chữa cho bị cáo Thào A S thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá), tỉnh Thanh Hoá, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 27/11/2024, tại Khu lao động, hướng nghiệp, dạy nghề H, Trại giam T2 thuộc Cục Q, Cơ sở giáo dục bắt buộc, Trường G ở thôn H, xã Đ, huyện Đ (nay là thành phố T), tỉnh Thanh Hóa, Thào A S đang chấp hành án phạt tù theo Bản án số 56/2024/HSST ngày 01/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, thời hạn 06 năm tù tính từ ngày 07/12/2023, bị cáo đã có hành vi trèo qua tường và bỏ trốn khỏi nơi giam. Nhận thức việc bỏ trốn khỏi nơi giam là vi phạm pháp luật nên đến 06 giờ 30 ngày 28/11/2024, khi đi qua Sư đoàn C4 ở phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa S đã vào và xin đầu thú, khai nhận việc bỏ trốn khỏi nơi giam. Sau đó phạm nhân S được Trại giam T2 đến đưa về trại giam để tiếp tục thi hành án.
[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án ; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Do đó cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của Thào A S1 đã phạm tội “Trốn khỏi nơi giam” theo khoản 1 Điều 386 BLHS.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Quá trình cải tạo bị cáo đã được học tập về quy chế, quy định tại nơi giam, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi bỏ trốn của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn lén lút, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của cán bộ quản giáo để trốn thoát. Qua đó, thể hiện sự bất chấp, thiếu ý thức chấp hành kỷ luật, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục phạm nhân của trại giam mà còn gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Bị cáo đang chấp hành án tại bản án số 56/2024/HSST ngày 01/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, thời hạn chấp hành án phạt tù là 06 năm, tính từ ngày 07/12/2023 theo Quyết định Thi hành án phạt tù số 84/2024/QĐ - CA ngày 05/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tính đến ngày xét xử ngày (17/02/2025) và trừ đi 01 ngày bị cáo bỏ trốn (ngày 27/11/2024), bị cáo đã chấp hành hình phạt tại bản án trên được 14 tháng 09 ngày. Do đó, tổng hợp hình phạt còn lại 04 năm 09 tháng 21 ngày tù chưa chấp hành án của Bản án số 56/2024/HSST ngày 01/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội trong khi đang chấp hành hình phạt tù nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên bị cáo đã đến Sư đoàn C4 ở phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.
[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56 - Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Thào A S phạm tội “Trốn khỏi nơi giam”.
- Xử phạt: Bị cáo Thào A S 15 tháng tù. Tổng hợp hình phạt còn lại 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù của Bản án sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 06 năm 21 ngày tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 18/02/2025.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ cho bị cáo Thào A S.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Thị Hà |
Bản án số 90/2025/HSST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về hình sự (trốn khỏi nơi giam)
- Số bản án: 90/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trốn khỏi nơi giam)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
