Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẬP THẠCH

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HSST

Ngày 21 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH – TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Trung

2. Ông Nguyễn Tiến Sửu

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Dung– Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà:

Bà Diệp Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST – HS ngày ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Thanh M, sinh ngày 02/9/1989, tại tỉnh Vĩnh Phúc

Nơi ĐKHK và cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Nguyễn Thanh N, sinh năm 1961; mẹ đẻ: Lăng Thị H, sinh năm 1963; vợ: Đặng Thị Lý H1, sinh năm 1989; có 02 con: Lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

+ Bản án số 63/2006/HSST ngày 19/12/2006, Toà án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 25/9/2006- Minh 17 tuổi 0 tháng 23 ngày. Minh Chấp hành hình phạt tù từ ngày 14/02/2007. Chấp hành xong án phí tháng 03/2007);

+ Bản án số 38/2007/HS-ST ngày 09/5/2007, Toà án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 13/02/2007- M 17 tuổi 05 tháng 11 ngày. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 63/2006/HSST ngày 19/12/2006 còn lại là 06 tháng 05 ngày (14/02/2007 đến 09/5/2007). M phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 18 tháng 05

ngày, tính từ ngày 10/5/2007. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/10/2008. Chấp hành xong án phí tháng 9/2007);

+ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 01/2014/QĐ-TA ngày 18/6/2014 của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch. (Chấp hành xong ngày 23/4/2016);

+ Bản án số 12/2019/HSST ngày 22/3/2019, Toà án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2020. Chấp hành xong án phí ngày 11/7/2019);

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh V, có mặt.

2/ Nguyễn Văn C, sinh ngày 07/02/1992 tại tỉnh Vĩnh Phúc

Nơi ĐKHK và cư trú: thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Nguyễn Văn T, sinh năm 1973; mẹ đẻ: Trần Thị H2, sinh năm 1972; vợ: Bùi Bích L (đã ly hôn); có 02 con: lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; tiền sự: Không; tiền án: 02, Bản án số 07/2019/HS-ST ngày 07/3/2019, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2020, chấp hành xong án phí và các quyết định khác của bản án ngày 28/5/2019); Bản án số 45/2021/HS-ST ngày 23/7/2021, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 02 năm 05 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2023, chấp hành xong án phí và các quyết định khác của bản án ngày 30/9/2021). (Đã tái phạm).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh V, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 31/7/2024, Nguyễn Văn C đang ở nhà thì nhận được điện thoại của H3 (là bạn nghiện C mới quen. H3 gọi vào chiếc điện thoại của C dùng để lắp sim rác) hẹn C ra khu vực Nghĩa trang thuộc thôn H, xã T, huyện L chơi. Sau đó, C một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88D1-162.51 đến khu vực Nghĩa trang để gặp H3. Tại đây, H3 đưa cho C 420.000₫ bảo C đi mua ma tuý về để cả hai cùng sử dụng thì C đồng ý. C cầm tiền rồi điều khiển xe rời đi, trên đường đi C sử dụng 01 chiếc điện thoại khác của C (nhãn hiệu Nokia, bên trong có lắp sim số 0987554163) gọi đến số điện thoại 0978.833.xxx của Nguyễn Thanh M để hỏi mua ma túy thì M đồng ý và hẹn C ra khu vực cây xăng C1 thuộc Tổ dân phố T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc để mua bán ma tuý.

Gặp M, lúc này khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, C đưa cho M 400.000đ, M cầm tiền và đưa cho C 02 gói ma túy heroin (được gói bên ngoài bằng giấy màu trắng), C cầm ma tuý cất giấu vào túi quần bên trái C đang mặc và điều khiển xe đi mua 01 chiếc xi lanh và 02 lọ nước cất với giá 20.000đ rồi đi về. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, C về đến nghĩa trang gặp H3, C lấy 02 gói ma túy loại heroin, 01 xi lanh và 02 ống nước cất vừa mua được để dưới nền gạch chuẩn bị cùng H3 sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh V bắt quả tang. Quá trình bắt giữ, lợi dụng sơ hở H3 bỏ chạy trốn. Cơ quan Công an thu giữ vật chứng gồm: 02 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong các gói này đều có chất bột cục màu trắng (niêm phong ký hiệu A1)- Công khai nhận đây là 02 gói ma tuý heroine C vừa mua được của M mục đích để sử dụng; thu giữ 01 xi lanh và 02 lọ nước cất N1- C dùng để chích heroine vào cơ thể; tạm giữ của C 01 xe mô tô BKS 88D1-162.51, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bên trong có lắp sim số 0987554163- là chiếc điện thoại C dùng liên lạc với M để mua ma tuý.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn C, ngày 01/8/2024 Cơ quan CSĐT công an tỉnh V tiến hành khám xét khẩn cấp đối với nơi ở, đồ vật của Nguyễn Thanh M. Tuy nhiên, M đã bỏ trốn. Kết quả khám xét: không thu giữ gì.

Ngày 08/8/2024, Cơ quan CSĐT công an tỉnh V triệu tập Nguyễn Thanh M đến trụ sở công an T3, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc làm việc. Quá trình làm việc, M khai nhận hành vi bán trái phép cho C 02 gói ma túy heroine vào khoảng 10 giờ 45 ngày 31/7/2024 và tự nguyện giao nộp các vật chứng gồm: 01 túi nilon màu trắng bên trong có 09 gói nhỏ đều được bọc bên ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột cục màu trắng (niêm phong ký hiệu A1) - M khai nhận là ma túy heroine của M tàng trữ mục đích để bán; T1 của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO bên trong có lắp sim số 0978833220- là chiếc điện thoại M dùng liên lạc với C để trao đổi mua ma túy và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh M.

Tại Bản kết luận giám định số 2244/KLGĐ ngày 05/8/2024 của Phòng K công an tỉnh V kết luận: Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 thu của Nguyễn Văn C gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,3230g (không phảy ba hai ba không gam, không kể bao bì).

Tại Bản kết luận giám định số 2257/KLGĐ ngày 07/8/2024 của Phòng K công an tỉnh V kết luận: Tìm thấy chất ma tuý Morphine trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn C.

Tại Bản kết luận giám định số 2330/KLGĐ ngày 12/8/2024 của Phòng K công an tỉnh V kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 thu của Nguyễn Thanh M gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,7890g (không bảy tám chín không gam, không kể bao bì) loại Heroine.

Về nguồn gốc 02 gói ma túy M bán cho C và 09 gói ma túy M tự giao nộp, M khai nhận mua của một người đàn ông (M mới quen), giới thiệu tên T2 ở khu vực gần UBND xã X với số tiền 2.000.000đ vào buổi sáng ngày 31/7/2024. Sau khi mua được ma tuý, M dùng móng tay chia nhỏ thành 12 gói (02 gói bán cho C, 01 gói M đã sử dụng khi bỏ trốn và 09 gói M đã giao nộp) mục đích để bán kiếm lời. Do M không biết tên tuổi và địa chỉ của T2 và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 95/CT-VKS ngày 06 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Nguyễn Thanh M về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và Nguyễn Văn C về tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với các bị cáo Nguyễn Thanh M, Nguyễn Văn C; giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Thanh M; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh M từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Áp dụng: Điểm o Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn C; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 05 năm 03 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu huỷ: Mẫu A1 hoàn lại mẫu sau giám định là 0,2773g (theo KLGĐ 2244/KLGĐ ngày 05/8/2024) cùng toàn bộ bao gói; Mẫu A1 hoàn lại sau giám định là 0,7288g (theo KLGĐ 2330/KLGĐ-KTHS ngày 12/8/2024) cùng toàn bộ bao gói; 01 sim điện thoại số 0978.833.xxx thu giữ của M và 01 sim điện thoại số 0987.554.xxx thu giữ của C; 01 xi lanh, 02 lọ nước cất Novacain.

- Tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại Nokia thu giữ của C, 01 điện thoại vivo thu giữ của M là công cụ M và C dùng để trao đổi, mua bán ma túy.

- Truy thu của Nguyễn Thanh M số tiền 400.000đ là tiền M bán ma tuý cho C mà có.

- Trả lại Nguyễn Văn C 01 xe mô tô biển kiểm soát 88D1-162.51 thu giữ của Nguyễn Văn C nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại Nguyễn Thanh M 01 Căn cước công dân.

Bị cáo Nguyễn Thanh M, Nguyễn Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Nguyễn Thanh M, Nguyễn Văn C nói lời sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh M, Nguyễn Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kiểm điểm, lời khai tại cơ quan điều tra của các bị cáo, biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 31/7/2024, tại khu vực cây xăng C1 thuộc TDP T, TT L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Thanh M có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Văn C 02 gói ma túy heroine có khối lượng bằng 0,3230g. Sau đó, C đi về khu vực nghĩa trang T4, xã T, huyện L chuẩn bị sử dụng số ma tuý trên thì bị lực lượng Công an tỉnh V bắt quả tang C có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra M tự giao nộp 09 gói ma túy heroine có tổng khối lượng bằng 0.7890g- M tàng trữ mục đích để bán. (Tổng khối lượng ma tuý M phải chịu trách nhiệm hình sự là 1,1120g, loại heroine).

Hành vi nêu trên của Nguyễn Thanh M đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn C đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...o) Tái phạm nguy hiểm”

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Mặc dù các hành vi liên quan đến ma tuý, tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người đã được tuyên truyền giáo dục nhiều, song các tội phạm về ma túy cũng chưa giảm, diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử lưu động công khai tại khu dân cư là cần thiết, có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, giữ vững an ninh tại địa phương.

Trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đến tính chất cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Thanh M phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Xét, bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2006, năm 2007, năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt về tội Trộm cắp tài sản; năm 2014 bị TAND huyện Lập Thạch áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bải học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn cố ý vi phạm pháp luật sử dụng tiền của mình trực tiếp đi mua ma túy về chia nhỏ để bán kiếm lời. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo nên cần xử phạt nghiêm bị cáo một mức án tù để cải tạo giáo dục bị cáo thành người công dân tốt cho xã hội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn C: năm 2019 đã bị Toà án nhân dân huyện Lập Thạch xử về tội mua bán trái phép chất ma túy. Đến năm 2021, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội và bị Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 02 năm 05 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy (tái phạm) nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại Điểm o Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần xử phạt nghiêm bị cáo một mức án tù nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo thành người công dân tốt cho xã hội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo thấy rằng: các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 và Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[4] Về nguồn gốc 02 gói ma túy M bán cho C và 09 gói ma túy M tự giao nộp, M khai nhận mua của một người đàn ông (M mới quen), giới thiệu tên T2 ở khu vực gần UBND xã X với số tiền 2.000.000₫ vào buổi sáng ngày 31/7/2024. Sau khi mua được ma tuý, M dùng móng tay chia nhỏ thành 12 gói (02 gói bán cho C, 01 gói M đã sử dụng khi bỏ trốn và 09 gói M đã giao nộp) mục đích để bán kiếm lời. Do M không biết tên tuổi và địa chỉ của T2 và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý là phù hợp.

Đối với người đàn ông tên H3- theo Công khai là người đưa tiền cho C đi mua ma tuý để sử dụng. Khi H3 gọi điện hẹn C ra nghĩa trang T4, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc thì H3 gọi vào chiếc điện thoại của C dùng để lắp sim rác, C không nhớ số sim rác này, không xác định được số điện thoại của H3 và đã đánh rơi chiếc điện thoại đó trên đường đi mua ma tuý (Công không xác định được vị trí đánh rơi nên không tiến hành truy tìm được). Công khai nhận mới quen biết H3, không biết họ tên, địa chỉ, lai lịch cụ thể của H3 và không nhận dạng được nên cơ quan điều không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với mẫu A1 hoàn lại sau giám định là 0, 2773g (theo KLGĐ 2244/KLGĐ ngày 05/8/2024) cùng toàn bộ bao gói; mẫu A1 hoàn lại sau giám định là 0,7288g (theo KLGĐ 2330/KLGĐ-KTHS ngày 12/8/2024) cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 sim điện thoại số 0978.833.xxx thu giữ

của M; 01 sim điện thoại số 0987.554.xxx thu giữ của C; 01 xi lanh, 02 lọ nước cất Novacain không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại Nokia thu giữ của C, 01 điện thoại vivo thu giữ của M là công cụ M và C dùng để trao đổi, mua bán ma túy nên cần tịch thu bán xung quỹ nhà nước

- Cần truy thu của Nguyễn Thanh M số tiền 400.000đ là tiền M bán ma tuý cho C mà có.

- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 88D1-162.51 thu giữ của Nguyễn Văn C. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của C nên cần trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với 01 Căn cước công dân thu giữ của M là giấy tờ cá nhân của M nên cần trả lại.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh M 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/8/2024.

2. Căn cứ vào: Điểm o Khoản 2 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 05 (năm) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 31/7/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu, tiêu hủy mẫu A1 hoàn lại sau giám định là 0,2773g (theo KLGĐ 2244/KLGĐ ngày 05/8/2024) cùng toàn bộ bao gói; mẫu A1 hoàn lại sau giám định là 0,7288g (theo KLGĐ 2330/KLGĐ-KTHS ngày 12/8/2024) cùng toàn bộ bao gói và 01 sim điện thoại số 0978.833.xxx thu giữ của M; 01 sim điện thoại số 0987.554.xxx thu giữ của C; 01 xi lanh, 02 lọ nước cất Novacain.

- Tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Nokia thu giữ của C, 01 điện thoại vivo thu giữ của M.

- Trả lại bị cáo C 01 xe mô tô biển kiểm soát 88D1-162.51 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại bị cáo M 01 Căn cước công dân.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2024).

- Truy thu của Nguyễn Thanh M số tiền 400.000đ.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Thanh M, Nguyễn Văn C: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;

  • - VKSND huyện Lập Thạch;

  • - Chi cục THADS Lập Thạch;

  • - Công an huyện Lập Thạch;

  • - Trại giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;

  • - Sở Tư pháp Vĩnh Phúc;

  • - UBND xã Tử Du, Lập Thạch;

  • - UBND TT Lập Thạch, Lập Thạch;

  • - Các bị cáo;

  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Lê Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH – TỈNH VĨNH PHÚC về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 90/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH – TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger