Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 90/2024/HSST

Ngày: 20/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Minh Tiến

2. Ông Phạm Văn Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đình Bách - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/TLST - HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Đức T, sinh năm 1971, tại Quảng Trị. Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; Dân tộc: kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng D, (đã chết) và bà Trần Thị H (đã chết); Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; H1 và tên vợ Lê Thị L, sinh năm 1971 và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

  • + Ngày 05/8/2008, bị Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 triệu đồng về tội “ đánh bạc”.
  • + Ngày 15/3/2024, bị Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội “đánh bạc”, chấp hành xong án phạt tù ngày 24/5/2024.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C cho đến nay.

2. Họ và tên: Trịnh Văn H2, sinh năm 1975, tại Quảng Trị. Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: kinh doanh; Trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn T1, sinh năm 1932 (đã chết) và bà Bùi Thị E, sinh năm 1934 (đã chết); Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1957, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; H1 và tên vợ Nguyễn Thị T2, sinh năm 1978 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C cho đến nay.

(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người làm chứng:

  • + Ông Trương D1, sinh năm: 1977; địa chỉ: ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  • + Ông Trịnh Văn H3, sinh năm: 1980; địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  • + Ông Lê Hoàng T3, sinh năm: 1986; địa chỉ: ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  • + Ông Vũ Văn S, sinh năm: 2002; địa chỉ: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 1982; địa chỉ: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  • + Ông Lê Hồng T4, sinh năm: 1982; địa chỉ: ấp E, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1978; địa chỉ: ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  • + Bà Cao Thị N, sinh năm: 1975; địa chỉ: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Ngọc D2, sinh năm: 2008; địa chỉ: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1974; địa chỉ: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn L2, sinh năm: 1972; địa chỉ: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/10/2023, Hoàng Đức T và Trương D1, sinh năm: 1975, ngụ tại: ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức xóc dĩa trên điện thoại di động tại nhà bà Cao Thị N, sinh năm: 1975 thuộc ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai bắt quả tang thu giữ số tiền 7.230.000 đồng.

Sau khi bị Công an xã S bắt quả tang về hành vi “Đánh bạc”, Hoàng Đức T đã liên hệ nhờ Trịnh Văn H2 tác động với Công an xã S theo hướng xử lý hành chính chứ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, T hứa hẹn sẽ bồi dưỡng cho những người làm hồ sơ nếu được giúp đỡ thì H2 đồng ý. Ngày 10/10/2023, T và D1 được Công an xã S mời lên để tiếp tục làm việc liên quan đến vụ việc đánh bạc. Tại đây, T nhờ D1 gọi điện thoại cho H2 tiếp tục nhờ H2 lên Công an xã S xin giúp. H2 liền lên Công an xã S rồi vào phòng làm việc của anh Trịnh Đình H4 - Trưởng Công an xã S. Tại đây, H2 nói với anh H4 là T, D1 có 10 triệu nhờ anh H4 giúp theo hướng chỉ bị xử phạt hành chính và được anh Hòa đồng Ý nên H2 thông báo lại cho T và D1 biết mỗi người chuẩn bị 5 triệu đồng đưa cho Công an xã S. Sau đó, anh H4 chỉ đạo Lê Hồng T4, Nguyễn Tuấn A, Lê Hoàng T3 là công an viên xã S thay đổi biên bản bắt người phạm tội quả tang, thay đổi lời khai ban đầu theo hướng giảm số tiền dùng để đánh bạc từ 7.230.000 đồng xuống còn 1.400.000 đồng và cất giữ toàn bộ số tiền 7.230.000 đồng vào tủ cá nhân của đồng chí Lê Hồng T4 mà không tiến hành bất cứ hoạt động điều tra xác minh nào khác. Tất cả biên bản phạm tội quả tang, lời khai ban đầu đều bị tiêu hủy. Vụ việc sau đó được Công an xã S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Khi biết mình chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính, vì đã hứa hẹn trước đó nên T đã đưa số tiền 05 triệu đồng cho bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1977, ngụ tại: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai nhờ bà L1 đưa lại cho Lê Hoàng T3 – Công an xã S. Sau đó bà L1 đã đưa số tiền trên cho T3. Riêng D1 thì không đưa tiền, vì D1 làm dân phòng tại Công an xã S có quen biết với các đồng chí Công an nên quá trình làm việc Dụng có nhờ xin được giúp đỡ và hứa hẹn sẽ làm chầu nhậu để cảm ơn.

Cáo trạng số 91/CT- VKS – CM ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Hoàng Đức T về tội “Đưa hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 364 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Truy tố bị cáo Trịnh Văn H2 về tội “Môi giới hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 365 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị:

  • - Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Hoàng Đức T được áp dụng tình tiết; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trịnh Văn H2 được áp dụng tình tiết: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo H2 còn có nhân thân tốt, có nhiều đóng góp và tham gia nhiều hoạt động từ thiện, an sinh xã hội tại địa phương; có cha vợ là ông Nguyễn Xuân C là người có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Về tội danh: Căn cứ Điều 364 và Điều 365, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Đức T phạm tội “Đưa hối lộ”. Bị cáo Trịnh Văn H2 phạm tội “Môi giới hối lộ”.
  • - Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 364; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Hoàng Đức T mức án từ 08 tháng đến 10 tù giam.

Căn cứ điểm điểm a khoản 1 Điều 365; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trịnh Văn H2 từ 06 tháng đến 07 tháng tù giam.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Phần tranh luận các bị cáo trình bày không có ý kiến gì về mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Phần trình bày lời nói sau cùng các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho các bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình và hòa nhập với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội và điều luật áp dụng: Tại phiên toà bị cáo Hoàng Đức T và bị cáo Trịnh Văn H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: các bị cáo khai, để không bị điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Đánh bạc”, xảy ra vào ngày 08/10/2023 tại ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai, bị cáo T đã nhờ bị cáo H2 làm trung gian để liên hệ với Công an xã S giải quyết hồ sơ theo hướng xử lý hành chính thì H2 đồng ý và thông báo lại cho T biết chi phí để Công an xã S làm theo yêu cầu của T với số tiền là 5.000.000 đồng. Sau khi được Công an xã S ra Quyết định xử lý hành chính, bị cáo T đã thông qua bà Nguyễn Thị L1 đưa số tiền 5.000.000 đồng cho Công an xã S.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa trùng khớp với lời khai ban đầu, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hoàng Đức T phạm tội “Đưa hối lộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 364 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trịnh Văn H2 phạm tội “Môi giới hối lộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 365 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Cáo trạng số 91/CT – VKS - CM ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ truy tố các bị cáo theo các tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T và H2 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo H2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo H2 có nhiều đóng góp và tham gia nhiều hoạt động từ thiện, an sinh xã hội tại địa phương; có cha vợ Nguyễn Xuân C là người có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và uy tín của các cơ quan Nhà nước, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương.

[6] Về quyết định hình phạt:

Xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo T, H2 nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã gây ra thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

[7] Các vấn đề khác:

  • - Đối với hành vi của Trương D1 về việc gọi điện cho bị cáo H2 để lên Công an xã S xin giúp cho bị cáo T. Tuy nhiên, D1 không biết việc T và H2 trao đổi về việc đưa tiền cho những người làm hồ sơ nếu được giúp đỡ, sau khi H2 thông báo mỗi người chuẩn bị 5.000.000 đồng để giải quyết hồ sơ thì D1 cũng không thực hiện. Do đó, hành vi của D1 không cấu thành tội phạm là phù hợp.
  • - Đối với Lê Hoàng T3, T3 không thừa nhận việc giúp bị cáo T và không nhận tiền từ bà L1. Hồ sơ chỉ có duy nhất lời khai, ngoài ra không có chứng cứ nào khác nên không đủ cơ sở xử lý hình sự đối với Lê Hoàng T3 là phù hợp.
  • - Đối với Trịnh Đình H4, anh H4 khai nhận việc sửa hồ sơ là do có mối quan hệ quen biết với Trương D1 chứ không phải vì lợi ích vật chất. Hồ sơ chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo H2 về việc anh Hòa đồng Ý giải quyết hồ sơ với số tiền 10.000.000 đồng ngoài ra không có chứng cứ nào khác nên không đủ cơ sở xử lý hình sự đối với Trịnh Đình H4 là phù hợp.
  • - Đối với Lê Hồng T4, Nguyễn Tuấn A thực hiện việc sửa lại hồ sơ theo chỉ đạo của Trịnh Đình H4. Hành vi trên Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang xác minh làm rõ.
  • - Đối với bà Nguyễn Thị L1, khi bị cáo T nhờ bà L1 đưa 5.000.000 đồng đồng cho Lê Hoàng T3, bà L1 không biết đây là tiền đưa hối lộ nên không cấu thành tội phạm.
  • - Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ về việc đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng nhưng mức án đề nghị xử phạt các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 364, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức T phạm tội “Đưa hối lộ”.
    Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đức T: 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 7 năm 2024.
  2. Căn cứ điểm điểm a khoản 1 Điều 365; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn H2 phạm tội “Môi giới hối lộ”.
    Xử phạt: bị cáo Trịnh Văn H2: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 7 năm 2024.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Đức T và Trịnh Văn H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS tỉnh Đồng Nai;
  • - STP tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an huyện Cẩm Mỹ;
  • - VKS huyện Cẩm Mỹ;
  • - THA.DS huyện Cẩm Mỹ;
  • - THA hình sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Khuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HSST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (về tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ)

  • Số bản án: 90/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (về tội Đưa hối lộ và Môi giới hối lộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đức Th và TRịnh Văn H phạm tội đưa hối hộ và môi giới hối lộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger