|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/DS-ST
Ngày: 18/11/2024.
“V/v Tranh chấp Ranh giới
quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trãi.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phi Hùng.
2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Vinh.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Tiền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24/10 và 18/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 89/2024/TLST-DS ngày 29/3/2024 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXXST-DS ngày 02/10/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 34/2024/QĐST-DS ngày 24/10/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Minh D, sinh năm 1956; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện nay: Số A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt).
- Bị đơn: Chị Cao Cẩm L, sinh năm 1985; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của chị L: Bà Lê Thị H, sinh năm 1961; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; (Theo văn bản ủy quyền ngày 12/4/2024), (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Lê Minh C, sinh năm 1984 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt 19/4/2024).
Lê Minh V, sinh năm 1987 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt 19/4/2024).
Lê Nhật L1, sinh năm 1992 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt 19/4/2024).
Cao Vân H1, sinh năm 1958; Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Minh D trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 713, 722 do ông D nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Tấn T và bà Bùi Thị T1 vào năm 1989, ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 1993. Thửa đất số 714 ông D nhận chuyển nhượng của ông D1 diện tích 937m² và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2007. Thửa đất số 713, 722 thì không nhớ có đo đạc thựa tế hay không còn thửa đất số 714 năm 2007 có đo đạc thực tế phần đất nhận chuyển nhượng. Thửa đất 714, 722 giáp ranh với thửa đất số 42 do chị Cao Cẩm L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay, các thửa đất số 713, 714, 722 được nhập lại thành thửa 142 do ông Lê Minh D đứng tên quyền sử dụng đất.
Khi nhập thành thửa 142 vào năm 2014 thì có đo đạc thực tế, nhưng đã mất 52m² so với diện tích khi nhận chuyển nhượng. Chị L nhận chuyển nhượng thửa đất số 42 giáp ranh với thửa đất 142 của ông D, khi chị L nhận chuyển nhượng ông D có ký giáp ranh, có trồng trụ đá làm ranh, tuy nhiên hiện nay chị L đã dời trụ đá qua anh D. Khi U có kéo từ ông N qua, đất của chị L dư nhưng chị L vẫn không đồng ý và tiếp tục cấm hàng trụ đá hiện tại, nên ông D mới khởi kiện. Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa ông D yêu cầu chị L trả lại cho tôi diện tích 39m² (qua đo đạc thực tế là 36,8m² thể hiện qua các mốc 21, 5, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 20, 21 trên sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
Ông D xác định ranh đất thửa đất số 142 của ông và thửa đất số 42 của chị L là đường thẳng nối các mốc 20 - 21 trên sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Ông D yêu cầu bà L trả lại cho ông D diện tích 36,8m² thể hiện qua các mốc 21, 5, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 20, 21 trên sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Theo lời khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị Cao Cẩm L là bà Lê Thị H trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 42 do chị L nhận chuyển nhượng của ông Mai Văn E vào năm 2011, nhận chuyển nhượng với giá 1,5 cây vàng/công, trong hợp đồng chuyển nhượng thì ghi giá chuyển nhượng là 90.000.000 đồng. Khi nhận chuyển nhượng thì không đo đạc thực tế, nhận chuyển nhượng trọn thửa từ ông E qua, diện tích trên giấy là 3.253m², còn khi chuyển nhượng do bằng tầm và diện tích thực tế bao nhiêu thì không biết. Thửa đất số 42 khi nhận chuyển nhượng giáp với kinh thủy lợi, đất ông Lê Văn D2, đất ông Cao Hoàng N. Mặt tiếp giáp với ông Cao Hoàng N có trụ đá làm ranh đất do ông N cậm, hai bên đã thống nhất. Mặt giáp với ông D2 có 12 cây trụ đá, trụ đá hai đầu là ông E, ông D2, ông N chứng kiến cậm, còn 10 trụ đá ở giữa là giăng dây với trụ đá hai đầu cậm (10 cây trụ đá ở giữa do chị L cậm). Trụ đá là nằm trọn bên thửa đất số 42 của chị L, 12 cây trụ đá đã cậm từ năm 2011 (từ khi mua đất) cho đến nay. Chị L không biết tổng diện tích, độ dài các cạnh thửa đất số 42 chị nhận chuyển nhượng bao nhiêu.
Chị L đã nhận chuyển nhượng trọn thửa đất số 42 nên diện tích có dư so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì vẫn thuộc thửa đất số 42 của chị L, không phải của ông D2.
Chị L xác định ranh giới giữa thửa đất số 42 của chị Cao Cẩm L và thửa đất số 142 của ông D2 là đường thẳng nối các mốc 5, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 trên sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Tại phiên tòa chị L xác định diện tích tranh chấp 36,8m² thể hiện qua các mốc 21, 5, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 20, 21 trên sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C vẫn thuộc thửa đất số 42 của chị L. Chị L không đồng ý trả cho ông D2.
Theo lời khai và tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Cao Vân H1 thống nhất theo lời trình bày của ông Lê Minh D không có ý kiến trình bày gì thêm.
Các đương sự Lê Minh C, Lê Minh V, Lê Nhật L1 thống nhất theo lời trình bày của ông Lê Minh D (có đơn xin vắng mặt ngày 19/4/2024)
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Minh D về việc yêu cầu xác định ranh đất là đường thẳng nối các mốc 20 - 21 và yêu cầu trả lại diện tích 36,8m² thể hiện qua các mốc 21, 5, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 20, 21 trên sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 142, tờ bản đồ số 71 và thửa đất số 42, tờ bản đồ số 71 là đường thẳng nối các mốc 20 - 21 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
+ Về án phí và chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Lê Minh D yêu cầu chị Cao Cẩm L trả lại diện tích đã lấn chiếm 47,8m² và yêu cầu xác định ranh giới thửa đất số 142 và 42. Đất tranh chấp tại: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3, 26, 27, 136, 137, 235, 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
[2] Xác định hộ gia đình sử dụng đất: Ông D thống nhất nguồn gốc đất là do ông và bà Cao Vân H1 nhận chuyển nhượng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 1993, khi cấp đổi năm 2014 hộ gia đình ông D gồm 05 người: Lê Minh D, Cao Vân H1, Lê Minh C, Lê Minh V, Lê Nhật L1,. Công văn số 4257/UBND-NC ngày 01/10/2024 của UBND huyện C xác định hộ ông D tại thời điểm cấp giấy do cơ quan quản lý về hộ khẩu cung cấp, theo Công văn số 450/CAH ngày 19/4/2024 của Công an huyện C xác định hộ gia đình sử dụng đất của ông D tại thời điểm cấp giấy gồm Lê Minh D, Lê Minh C, Lê Minh V, Lê Nhật L1. Căn cứ Khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024, Hội đồng xét xử xác định hộ gia đình sử dụng đất ông D gồm 05 người là: Lê Minh D, Cao Vân H1, Lê Minh C, Lê Minh V, Lê Nhật L1 (gọi tắt là: hộ ông D) là đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn
[3.1] Ông D yêu cầu chị L trả lại diện tích 36,8m² thể hiện qua các mốc 21, 5, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 20, 21 trên sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Chị L không đồng ý trả cho ông D diện tích nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 22/5/1993 ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 713, diện tích 2.127m² và thửa đất số 722, diện tích 4.621m². Ngày 16/5/2007 hộ ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 714 diện tích 937m². Ngày 12/9/2014 hộ ông D nhập các thửa đất 713, 714, 722 thành thửa 142, diện tích 7.633m². Chị L nhận chuyển nhượng của ông E thửa đất số 715, diện tích 3.253m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp ngày 22/5/1993. Ngày 27/5/2011 chị L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 42, diện tích 3.253m².
[3.2] Qua đo đạc thực tế theo sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C thửa đất số 42, diện tích 3.313,5m² (chưa tính phần diện tích tranh chấp 36,8m²) so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp 3.253m² thì đã dư 60,5m². Thực tế còn lại của thửa đất số 142, diện tích 7.481,8m² (chưa tính phần tranh chấp 36,8m²) so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp 7.633m² thì thiếu 151.2m². Tuy nhiên, chiều dài các cạnh của 02 thửa đất qua đo đạc thực tế không giống như chiều dài các cạnh của 02 thửa đất khi được được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo Công văn số 4257/UBND-NC ngày 01/10/2024 của UBND huyện C xác định khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu thửa 715 (thửa mới 42) đều dựa trên hồ sơ địa chính và phần đất tranh chấp 36,8m² thuộc thửa 142.
Hội động xét xử xét thấy: Mặc dù độ dài các cạnh thửa đất khi đo đạc thực tế có khác so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, tuy nhiên việc độ dài các cạnh khác là do việc cấp giấy đề đều dựa tên hồ sơ địa chính như UBND huyện trả lời. Đồng thời nếu không tính phần đất tranh chấp 36,8m² thì diện tích đo đạc thực tế còn lại của thửa 42 là 3.313,5m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp 3.253m² thì đã dư 60,5m². Còn thửa đất số 142 là diện tích 7.481,8m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp 7.633m² thì thiếu 151.2m² như vậy cho dù phần đất 36,8m² có thuộc thửa đất số 142 thì thửa đất này vẫn thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND huyện C cũng xác định diện tích 36,8m² thuộc thửa đất số 142. Chị L cho rằng 12 cây trụ đá đã cấm từ năm 2011 (từ khi mua đất) cho đến nay, khi chị nhận chuyển nhượng đất từ ông E không biết tổng diện tích, độ dài các cạnh và chuyển nhượng trọn thửa đất số 42 nên diện tích có dư so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vẫn thuộc thửa đất số 42 của chị L nhưng không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh.
[3.3] Từ các lập luận tại mục [3.1] và [3.2] căn cứ vào Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự, ông Lê Minh D yêu cầu chị Lê Cẩm L2 trả lại diện tích 36,8m² và yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất là đoạn thẳng nối các mốc 20-21 là có cơ sở để chấp nhận. Chị L2 cho rằng diện tích 36,8m² là của chị và yêu cầu xác định ranh giới là đoạn thẳng nối các mốc 5, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 là không có cơ sở để chấp nhận.
Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 42 của chị L2 và thửa đất số 142 của hộ ông D được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian. Tài sản của các bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí: Chị L2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu của ông D được chấp nhận. Căn cứ và các Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự chị L2 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Tổng cộng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 11.169.000 đồng (trong đó chi phí đo đạc là 9.969.000 đồng; chi phí định giá tài sản là 1.200.000 đồng). Ông D đã nộp tạm ứng là 11.169.000 đồng nên chị L2 phải trả lại cho ông D số tiền này.
[6] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 3, 26, 27, 136, 137, 235, 236 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ vào Điều 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Minh D về việc yêu cầu xác định ranh đất là đường thẳng nối các mốc 20 - 21 và yêu cầu trả lại diện tích 36,8m² thể hiện qua các mốc 21, 5, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 20, 21 trên sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 142, tờ bản đồ số 71 của hộ ông Lê Minh D và thửa đất số 42, tờ bản đồ số 71 của chị Cao Cẩm L là đường thẳng nối các mốc 20 - 21 trên sơ đồ đo đạc ngày 09/7/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Buộc chị Cao Cẩm L phải trả lại diện tích 36,8m² thể hiện qua các mốc 21, 5, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 20, 21 trên sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C cho hộ ông Lê Minh D.
Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 142, tờ bản đồ số 71 và thửa đất số 42, tờ bản đồ số 71 được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian. Tài sản của các bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo bản án là sơ đồ đo đạc ngày 14/11/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C; Biên bản xem xét thẩm định tại chổ và Biên bản định giá tài sản 28/5/2024).
Về án phí: Chị Cao Cẩm L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng khác: Chị Cao Cẩm L phải trả lại cho ông Lê Minh D số tiền xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 11.169.000 đồng (trong đó chi phí đo đạc là 9.969.000 đồng; chi phí định giá tài sản là 1.200.000 đồng).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Trãi |
Bản án số 90/2024/DS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 90/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
