|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE Bản án số: 90/2024/DS-ST Ngày: 20/9/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Bùi Văn Mưa Lớn;
- Ông Hồ Văn Thái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên toà: Bà Bùi Đinh Thị Huyền Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 147/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lương Thị A, sinh năm: 1960;
Địa chỉ: F ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Anh Phạm Mạnh H, sinh năm: 1990;
Địa chỉ: G, ấp P, xã P, Tp B, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Ông Dương Văn Ú, sinh năm: 1981;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
(Anh H có yêu cầu giải quyết vắng mặt; ông Ú vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 4 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Phạm Mạnh H trình bày:
Trong năm 2021, ông Ú có vay của bà A số tiền 110.000.000 đồng, khi vay hai bên có lập hợp đồng vay tiền có công chứng tại Văn phòng C; lãi suất thoả thuận 3%/tháng; thời hạn vay là 03 tháng từ ngày 14/12/2021 đến ngày 13/3/2022. Lãi thoả thuận trả hàng tháng vào ngày 14 dương lịch.
1
Khi đến thời hạn trả nợ, bà A đã nhiều lần yêu cầu ông Ú thanh toán cho bà A khoản nợ đã vay nhưng ông Ú không hợp tác, không có thiện chí trả nợ.
Nay, bà A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Ú trả cho bà A số tiền gốc đã vay là 110.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 3070 ngày 16/12/2021 và tiền lãi phát sinh tạm tính từ ngày 16/12/2021 đến ngày 16/4/2024 là 28 tháng, tương ứng với số tiền là 110.000.000 x 28 tháng x 1,5%/tháng = 46.200.000 đồng. Tổng số tiền bà A yêu cầu ông Ú phải trả tạm tính đến ngày 16/4/2024 là 156.200.000 đồng.
Tại bản tự khai ngày 15/8/2024, anh H, đại diện cho nguyên đơn, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/9/2024), tiền lãi ông Ú còn nợ của bà A là 110.000.000 đồng x 33 tháng x 1,5%/tháng = 54.450.000 đồng. Tổng số tiền ông Ú phải trả cho bà A là 164.450.000 đồng. Ngoài ra, anh H có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt không có khiếu nại về sau.
Bị đơn ông Dương Văn Ú vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 21, 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lương Thị A; Buộc bị đơn Dương Văn Ú có nghĩa vụ trả cho bà A số tiền 110.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1,5%/tháng kể từ ngày 16/12/2021 đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 19/4/2024, bà Lương Thị A khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Dương Văn Ú trả cho bà A số nợ là
2
110.000.000 đồng và tính lãi bắt đầu từ ngày 16/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 1,5%/tháng, tạm tính đến ngày 16/4/2024 là 46.200.000 đồng. Tổng cộng là 156.200.000 đồng. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 463 Bộ luật dân sự. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Ú đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa hôm nay.
Xét thấy, tại “Hợp đồng vay tiền” được công chứng ngày 16/12/2021 có nội dung: ông Dương Văn Ú, sinh năm 1981; hộ khẩu thường trú (địa chỉ): ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Bên A (bà A) đồng ý cho bên B (ông Ú) vay số tiền 110.000.000 đồng. Dưới mục “Bên B” có chữ ký “Ú” và chữ viết “Dương Văn Ú”. Hợp đồng vay tiền này được công chứng tại Văn phòng C. Như vậy có cơ sở khẳng định, người ký vay tiền trong “Hợp đồng vay tiền” được công chứng ngày 16/12/2021 là ông Dương Văn Ú.
Tại “Hợp đồng vay tiền” được công chứng ngày 16/12/2021 thể hiện địa chỉ thường trú của ông Ú tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, sau đó ông Ú thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện nghĩa vụ với bà A mà không thông báo cho bà A biết về nơi cư trú mới, thể hiện tại “Biên bản xác minh” ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc: ông Nguyễn Thanh H1, trưởng ấp ấp T, xã T xác nhận: ông Dương Văn Ú, sinh năm: 1981; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre nhưng hiện nay ông Ú không sinh sống tại địa phương. Từ các căn cứ nêu trên có cơ sở xác định, ông Ú cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử vắng mặt ông Ú là phù hợp với quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2] Đối với yêu cầu của bà A yêu cầu ông Ú trả số tiền 110.000.000 đồng và tiền lãi:
Theo anh H, đại diện cho nguyên đơn: vào năm 2021, ông Dương Văn Ú có vay của bà A số tiền 110.000.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng kể từ ngày 14/12/2021 đến ngày 13/3/2022, lãi suất 3%/tháng, thỏa thuận, hàng tháng vào ngày 14 dương lịch, ông Ú phải trả tiền lãi cho bà A. Tuy nhiên, sau khi vay, ông Ú không thực hiện nghĩa vụ trả lãi như đã thỏa thuận và cũng chưa trả được khoản nợ gốc nào, vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã cam kết. Bà A nhiều lần yêu cầu ông Ú trả tiền nhưng ông Ú không thực hiện. Bà A yêu cầu ông Ú trả cho bà A số tiền vốn đã vay là 110.000.000 đồng đồng thời ông Ú trả tiền lãi với mức lãi suất 1,5%/tháng, thời điểm tính lãi kể từ ngày 16/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm. Chứng cứ chứng minh là “Hợp đồng vay tiền” công chứng ngày 16/12/2021; “Giấy giao nhận tiền” đề ngày 16/12/2021.
3
Đối với yêu cầu của bà A, ông Ú vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay nên không có lời trình bày và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Xét thấy, tại “Hợp đồng vay tiền” công chứng ngày 16/12/2021 thể hiện: bà A cho ông Ú vay số tiền là 110.000.000 đồng, thời hạn vay là 03 tháng kể từ ngày 14/12/2021 đến ngày 13/3/2022 với lãi suất là 3%/tháng. Dưới mục “Bên B” có chữ ký “Ú” và chữ viết “Dương Văn Ú”. Hợp đồng vay tiền này được công chứng tại Văn phòng C. Như vậy có cơ sở khẳng định, người ký vay tiền của bà A trong “Hợp đồng vay tiền” công chứng ngày 16/12/2021 là ông Dương Văn Ú với số tiền vay là 110.000.000 đồng. Tại “Giấy giao nhận tiền” đề ngày 16/12/2021 thể hiện nội dung: bên A (bà A) giao cho bên B (ông Ú) nhận đủ số tiền là 110.000.000 đồng; dưới mục “Bên nhận tiền” có chữ ký “Út” và chữ viết “Dương Văn Ú”. Theo anh H, đại diện cho bà A, xác định ông Ú chưa trả số tiền nào theo thỏa thuận cho bà A. Ông Ú đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết. Theo hồ sơ, không có chứng cứ chứng minh ông Ú đã trả nợ số tiền nêu trên cho bà A nên có căn cứ xác định, ông Ú còn nợ của bà A số tiền 110.000.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của bà A là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận. Cần buộc ông Ú có trách nhiệm trả cho bà A số tiền là 110.000.000 đồng.
[3] Đối với yêu cầu của bà A về tiền lãi tính từ ngày 16/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất là 1,5%/tháng.
Theo anh H, đại diện của nguyên đơn trình bày: bà A cho ông Ú vay số tiền 110.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng. Tuy nhiên, đến nay bà A chỉ yêu cầu tính lãi với mức lãi suất là 1,5%/tháng. Anh H yêu cầu Tòa án tính lãi với mức lãi suất nêu trên, thời điểm tính lãi bắt đầu từ ngày 16/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 20/9/2024 là 33 tháng. Cụ thể: 110.000.000 đồng x 1,5%/tháng x 33 tháng = 54.450.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận. Cần buộc ông Ú có trách nhiệm trả cho bà A tổng số tiền vốn và lãi là 110.000.000 đồng + 54.450.000 đồng = 164.450.000 đồng.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: ông Ú phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 8.223.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
4
- Áp dụng Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Buộc ông Dương Văn Ú có trách nhiệm trả cho bà Lương Thị A tổng số tiền là 164.450.000đ (Một trăm sáu mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Trong đó: tiền vốn: 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng) và tiền lãi: 54.450.000đ (Năm mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).
- Về án phí: ông Dương Văn Ú phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.223.000đ (Tám triệu hai trăm hai mươi ba ngàn đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ông Dương Văn Ú vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Minh Trung |
5
Bản án số 90/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 90/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Thị A tranh chấp hợp đồng vay với Dương Văn U
