TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST
Ngày 16/9/2024
V/v “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kiện
Ông Hà Ứng Cương
Thư ký phiên tòa ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thăng - Thư ký TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Ông Nguyễn Thế Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 99/2024/TLST- HNGĐ, ngày 20 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 26/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/QĐST- HNGĐ ngày 23/8/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Hồ Lê Minh H, sinh năm: 1995
- Địa chỉ: P đường C, khu phố H, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- * Bị đơn: Anh Nguyễn Phước T, sinh năm 1994.
- Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
(Chị H có mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hồ Lê Minh H trình bày như sau:
Về hôn nhân: Năm 2020, chị và anh Nguyễn Phước T đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã 17/03/2022
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh Nguyễn Phước T có 02 người con chung tên là Nguyễn Hồ Phương T1, sinh ngày 20/11/2011 và Nguyễn Hồ Cát T2, sinh ngày 21/5/2023. Hiện nay 02 con đang do chị nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Nguyễn Phước T không có.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp, cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị và anh T không còn chung sống.
Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Phước T
- Về con chung và cấp dưỡng: Chị và anh Nguyễn Phước T có 02 người con chung tên là Nguyễn Hồ Phương T1, sinh ngày 20/11/2011 và Nguyễn Hồ Cát T2, sinh ngày 21/5/2023. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Phước T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Nguyễn Phước T không có.
Ngoài ra, chị không yêu cầu gì thêm.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Phước T trình bày như sau:
Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh T không đến Tòa án nên không có lời khai.
* Tại phiên tòa:
- Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Đại diện VKS phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Lê Minh H. Cho chị Hồ Lê Minh H được ly hôn với anh Nguyễn Phước T. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Hồ Phương T1, sinh ngày 20/11/2011 và Nguyễn Hồ Cát T2, sinh ngày 21/5/2023 cho chị Hồ Lê Minh H tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: Không xét.
Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Phước T là bị đơn trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T đi đến hôn nhân năm 2020 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48 vào ngày 17/3/2022 theo đúng quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Theo chị H trình bày: Trong quá trình chung sống, anh chị thường xuyên xảy ra cự cãi do bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị H yêu cầu xin ly hôn với anh T. Xét thấy, yêu cầu của chị là có cơ sở chấp nhận. Vì theo như lời trình bày của chị H thì chị và anh T không ai còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cũng như những nghĩa vụ sống chung với nhau, không có biện pháp nào để hàn gắn cuộc sống gia đình. Tại phiên tòa hôm nay, chị H vẫn cương quyết xin ly hôn với anh T. Đối với anh T, Tòa án đã tiến hành hòa giải 02 lần nhưng anh T không tham dự cũng không có ý kiến gì đối với lời trình bày của chị H và tại phiên tòa hôm nay anh T vẫn không tham dự. Từ đó, có căn cứ cho rằng hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
- Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Hồ Phương T1, sinh ngày 20/11/2021 và Nguyễn Hồ Cát T2, sinh ngày 21/5/2023. Tại phiên tòa hôm nay, chị H yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung vì hiện nay 02 con đang do chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Phía anh T cũng không có ý kiến hay tranh chấp gì. Đồng thời, hiện nay cả 02 cháu đều chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó, cần giao 02 con chung tên Nguyễn Hồ Phương T1, sinh ngày 20/11/2021 và Nguyễn Hồ Cát T2, sinh ngày 21/5/2023 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Trong thời gian chị H nuôi dưỡng 02 con chung thì anh T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác nhận chị và anh T không có nên không yêu cầu nên HĐXX xem xét giải quyết.
[3] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Hồ Lê Minh H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Lê Minh H.
1/ Về hôn nhân: Chị Hồ Lê Minh H được ly hôn với anh Nguyễn Phước T.
2/ Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Hồ Phương T1, sinh ngày 20/11/2021 và Nguyễn Hồ Cát T2, sinh ngày 21/5/2023 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Phước T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.
3/ Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: Không xét.
4/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Hồ Lê Minh H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007529 ngày 26 tháng 02 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (chị H đã nộp xong).
5/ Quyền kháng cáo: Chị Hồ Lê Minh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Phước T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thanh Thảo |
Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn vả nuôi con
