|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG TỈNH HẢI DƯƠNG
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 90/2024/HSST Ngày: 12/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiên và bà Nguyễn Thị Hương Giang
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐ-HSST ngày 28 tháng 8 năm 2024 và theo thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, đối với bị cáo:
Họ và tên: Tăng Văn G, sinh năm 1984; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Tăng Văn C (đã chết) và bà Trương Thị L, sinh năm 1950 (ông C được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất); bị cáo có vợ là chị Lê Châu Mi M, sinh năm 1997; có 1 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Nguyễn Đình C1, sinh năm 1949 (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Đoàn Thị L1, sinh năm 1948
- Anh Nguyễn Đình B, sinh năm 1973
- Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1984
- Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1976
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Tăng Thị T, sinh năm 1976. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt và có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa;
* Người làm chứng: Ông Phạm Đình C2, sinh năm 1958; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tăng Văn G có giấy phép lái xe môtô theo quy định. Sáng ngày 03/4/2024, sau khi làm ca đêm về G đi ăn sáng và uống bia, rượu cùng bạn đến trưa thì về nhà ngủ. Tối cùng ngày, G điều khiển xe môtô BKS 29B1-012.01 từ nhà đến khu đô thị V, huyện C với tốc độ khoảng 40km/h và bật đèn chiếu gần. Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, G đi trên đường T, xã L, huyện C thì nhìn thấy ông Nguyễn Đình C1, sinh năm 1949 và ông Phạm Đình C2, sinh năm 1958 (đều ở thôn B) đi bộ phía trước cùng chiều (ông C2 đi sát rìa đường bên phải, ông C1 đi bên trái ông C2). Lúc này do khoảng cách gần và G không giảm tốc độ đến mức an toàn nên phần đầu xe môtô va chạm vào phía sau ông C1 và đẩy ông C1 ngã về phía trước, xe môtô bị đổ, G ngã trên đường. Hậu quả: ông C1 chết tại hiện trường, G bị thương được đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H và Bệnh viện V.
Khám nghiệm hiện trường xác định: Mặt đường rộng 3,9m, trải nhựa nhẫn thẳng, hai bên là lề đường rộng 1,8m và mương nước rộng 1,5m, không có đèn đường chiếu sáng ban đêm. Tả theo hướng thôn B, xã C - Khu đô thị V: Cách đầu lối mở bên trái vào đường bê tông ra cánh đồng thôn B 38,1m và cách mép đường bên phải 0,26m trên mặt đường là điểm đầu của vết cà xước mặt đường đứt quãng kích thước (1,4 x 0,01)m, có hướng kéo dài về phía khu đô thị V, kết thúc tại mép đường bên phải (vết số 1). Cách điểm cuối của vết số 1 về phía khu đô thị V 0,8m và cách mép đường bên phải 0,1m là điểm đầu của vùng nhựa vỡ rơi vãi xuống mặt đường, lề đường kích thước (3,3 x 3,2)m, điểm cuối của vùng nhựa vỡ ở dưới mương nước cách mép đường bên phải là 3,2m (vết số 2). Cách điểm đầu của vết số 2 về phía khu đô thị V 4,2m và cách mép đường bên phải 0,2m, tại lề đường bên phải là trục sau xe môtô BKS 29B1 – 012.01 đổ nghiêng phải ở lề đường, đầu xe hướng khu đô thị V. Cách trục trước của xe môtô BKS 29B1 – 012.01 về phía khu đô thị V và cách mép đường bên phải 0,75m trên mặt đường là gót chân phải của ông C1 trong tư thế nằm nghiêng phải, đầu hướng về mép đường bên trái, chân hướng về mép đường bên phải, đỉnh đầu cách mép đường bên phải là 1,8m. Tại vị trí ông C1 nằm có vùng máu loang kích thước (0,4 x 0,8).
Khám xe môtô BKS 29B1 – 012.01: Phía trước đầu xe có vùng va chạm hướng từ trước về sau làm vỡ nhựa chắn bùn phía trước đầu xe, nhựa ốp đầu xe, cụm đèn pha đèn xi nhan bung rời khỏi thân xe kích thước (40 x 60)cm. Nhựa ốp đèn pha có vết mài xước nhựa hướng từ trước về sau, từ phải qua trái kích thước (11,5 x 5)cm. Ốp nhựa phía trước đầu xe, gần với tay nắm người lái bên trái có vết mài xước nhựa hướng từ phải qua trái bề mặt dính bám bùn đất kích thước (11 x 9)cm. Mặt phía trước của đầu tay nắm người lái bên trái có vết mài xước cao su, kim loại hướng từ phải qua trái kích thước (3,5 x 2)cm. Mặt ngoài tay xách yên bên trái có vết mài mòn cao su dạng sun chảy hướng từ phải qua trái từ trước về sau kích thước (14 x 4)cm. Đầu giá để chân người lái bên trái có vết mài xước kim loại hướng từ trước về sau kích thước (1x1)cm.
Kết luận giám định tử thi số 97/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh H kết luận: Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Đình C1 là do đa chấn thương (chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín). Tổn thương do vật tày gây nên là phù hợp.
Kết luận giám định số 2567/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của V1, Bộ C3 kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Tăng Văn G có tìm thấy ethanol (cồn); nồng độ ethanol 259 mg/100ml máu.
Quá trình điều tra xác định xe môtô Honda Wave RSX BKS 29B1 - 012.01 là tài sản hợp pháp của Tăng Văn G mua lại của anh Trần Văn H, sinh năm 1969, ở phòng 602, lô E, phường Y, thành phố Hà Nội từ năm 2019 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 07/5/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe môtô cho G.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Đình C1 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng chẵn), gia đình ông C1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Qúa trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định và các biên bản khám nghiệm nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 19/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Tăng Văn G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố về tội danh và điều luật nêu trên là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại vắng mặt và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, xác nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường tổng số tiền 50.000.000₫ (Năm mươi triệu đồng), gia đình bị hại đã nhận đầy đủ số tiền trên và tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản nào khác, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra không ai có yêu cầu gì khác.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Tăng Văn G. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tăng Văn G phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tăng Văn G từ 24 (Hai mươi bốn) đến 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng, trả lại bị cáo G tại phiên tòa 01 giấy phép lái xe môtô hạng A1 do Bộ G1 cấp ngày 22/9/2014 (Không thời hạn) mang tên Tăng Văn G hiện đang lưu kèm theo hồ sơ vụ án; Về trách nhiệm dân sự: Hai bên đã thỏa thuận, giải quyết xong nên không đặt ra giải quyết; Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Bị cáo nói lời sau cùng, không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, bị cáo đã nhận thức được hành vi do mình gây ra là vi phạm pháp luật, rất ân hận đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn của bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 03/4/2024, tại đường L thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương, Tăng Văn G điều khiển xe môtô BKS 29B1-012.01 khi đã sử dụng chất có cồn, định lượng Ethanol là 259mg/100ml máu. Do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên khi phát hiện thấy ông Nguyễn Đình C1, sinh năm 1949 và ông Phạm Đình C2, sinh năm 1958, ở thôn B đi bộ phía trước cùng chiều (ông C2 đi sát rìa đường bên phải, ông C1 đi bên trái ông C2) đã không kịp xử lý dẫn đến phần đầu xe môtô va chạm vào phía sau ông C1, đẩy ông C1 ngã về phía trước, hậu quả làm ông C1 tử vong tại hiện trường. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, hậu quả bị cáo gây nên là nghiêm trọng nhưng với lỗi vô ý. Bản thân bị cáo đã được học và cấp giấy phép lái xe, hoàn toàn nhận thức được và biết khi tham gia giao thông phải đảm bảo, đi đúng phần đường, chú ý quan sát, làm chủ được tốc độ để có thể xử lý được mọi tình huống xảy ra nhưng do bị cáo đã sử dụng rượu rồi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông dẫn đến vi phạm pháp luật. Hành vi của Tăng Văn G đã vi phạm khoản 8, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, tại khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định các hành vi bị nghiêm cấm “Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililit máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khi thở” nhưng bị cáo G điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi đã sử dụng rượu, trong máu có nồng độ cồn định lượng E là 259mg/100ml máu. Tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộquy định các “hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ” thì bị cáo G điều khiển phương tiện tham gia giao thông để xảy ra tai nạn gây hậu quả nghiêm trọng, làm ông C1 chết nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” qui định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (được viết tắt là TNHS) của bị cáo thì thấy: Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bản thân bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại tiền mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 50.000.000₫ (Năm mươi triệu đồng), đại diện của gia đình bị hại xác nhận đã nhận đầy đủ và có đơn đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có bố là ông Tăng Văn C được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên HĐXX cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện C, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của bị cáo: HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu, bản thân cũng bị thương nặng phải điều trị vết thương liên tục tại các bệnh viện (Bệnh viện đa khoa tỉnh H; Bệnh viện V-Hà Nội, Bệnh viện TWQĐ 108) thời gian từ ngày 03/4/2024 đến ngày 20/4/2024. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo qui định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, cần trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Bộ G1 cấp ngày 22/9/2014 (Không thời hạn) mang tên Tăng Văn G.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng chẵn), đại diện gia đình bị hại xác nhận đã nhận đủ số tiền trên và tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự trong vụ án này.
[7] Về Vật chứng:
- Đối với chiếc xe môtô Honda Wave RSX BKS 29B1 - 012.01 là tài sản hợp pháp của Tăng Văn G mua lại của anh Trần Văn H, sinh năm 1969, ở phòng 602, lô E, phường Y, thành phố Hà Nội từ năm 2019 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 07/5/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã trả lại xe môtô cho bị cáo G nên HĐXX không phải giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên buộc phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Những vấn đề khác: Đối với hành vi không làm thủ tục sang tên xe môtô BKS 29B1 - 012.01 của Tăng Văn G, Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với G.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Tuyên bố: Bị cáo Tăng Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về án phí: Buộc bị cáo Tăng Văn G phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Tăng Văn G có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; những người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Xử phạt: Bị cáo Tăng Văn G 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
Trả lại bị cáo Tăng Văn G 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Bộ G1 cấp ngày 22/9/2014 (Không thời hạn) mang tên Tăng Văn G tại phiên tòa.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Trương Thị Tố Uyên |
Bản án số 90/2024/HSST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 90/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tăng Văn Giang
