|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2024/HS-ST Ngày: 28 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo, ông Nguyễn Văn Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/HSST ngày 31 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hồ Ngọc P, sinh năm 1998; nơi cư trú: số F, Sương Nguyệt A, khóm E, phường C, Thành phố C, tỉnh An Giang, chỗ ở hiện nay: số A, đường H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; dân tộc: kinh; tôn giáo: đạo Phật; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; nghề nghiệp: mua bán; con ông Hồ Ngọc H (chết) và bà Lâm Bích C; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cư trú, (có mặt).
2. Hứa Trí T (T1), sinh năm 1981; nơi cư trú: số C - C S, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; dân tộc: kinh; tôn giáo: đạo Phật; trình độ học vấn: đại học; giới tính: nam; nghề nghiệp: mua bán; con ông Hứa Văn V và bà Lục Kim H1; vợ Lâm Tú H2, có 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cư trú, (có mặt).
Bị hại:
- Ông Võ Thanh L, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Viết T2, sinh năm 1996; nơi cư trú: khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, (đã chết).
Người diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Viết T2: Bà Trần Thị Á, sinh năm 1975, nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
Người làm chứng: Trần Quốc T3, sinh năm 1995; Hồ Lâm Ngọc D, sinh năm 1995; Lâm Tú H2, sinh năm 1981; Lê Thị Yến N, sinh năm 1999; Lâm Bích C, sinh năm 1972, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 18/10/2023, sau khi uống bia cùng với Hồ Ngọc P, Hứa Trí T giao xe ô tô biển số 67L-9810 loại xe 05 chổ ngồi cho P điều khiển, T ngồi bên ghế phụ lưu thông trên đường T Quốc lộ I theo hướng T - C. Khi đến Km 114+900, P điều khiển không làm chủ tay lái, không quan sát phía trước nên va chạm vào xe đạp đang lưu thông cùng chiều phía trước do Nguyễn Viết Tín điều K chở Võ Thanh L ngồi phía sau. Hậu quả làm T2, L ngã xuống đường chấn thương vùng đầu, mặt và tai. Sau đó, T2 và L được đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu. Đến khoảng 05 giờ ngày 19/10/2023, T2 chết tại Bệnh viện, L điều trị thương tích đến này 24/10/2023 thì xuất viện.
Vật chứng thu giữ: 01 xe đạp bị biến dạng; 01 xe ô tô, biển số 67L-9810 ; 01 giấy phép lái xe hạng B2 của P; 01 lưỡi hái hình bán nguyệt, lưỡi bằng sắt, có tay cầm bằng gỗ; 01 áo thun tay ngắn màu xám trắng, cổ áo có viền đen và có chữ ecko unltd; 01 quần jean ống dài màu xanh bạc trắng; 01 áo thun tay ngắn màu xanh đen, có cổ, tay áo bên trái có chữ ARTENGO màu trắng; 01 quần jean ống dài, màu xanh bạc, thắt lưng có mặc trắng có chữ ZARAMAN; đã trao trả lại 01 xe ô tô cho Hứa Văn V, trả lại giấy phép lái xe cho P.
- Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 308/23/KLGĐTT-TTPY ngày 20/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Nguyễn Viết T2, ghi nhận: nguyên nhân chết do chấn thương sọ não nặng, nứt vỡ sọ phức tạp, phòi mô não;
- Tại bản kết luận giám định pháp y về tồn thương trên cơ thể người sống số 133/24/KLTTCT-TTPY ngày 01/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Võ Thanh L, ghi nhận: sẹo trán đính thái dương trái, sẹo cung mày trái, sẹo mất từ 1/3 đến 2/3 vành tai phải, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 19%, các thương tích trên do vật tày có cạnh gây nên.
- Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan vụ tai nạn giao thông ngày 18/10/2023 và Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 19/10/2023 của Cơ
quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C ghi nhận phù hợp với nội dung vụ án.
- Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 19/10/2023 của Phòng C1 – Công an tỉnh A ghi nhận nồng độ cồn của Hồ Ngọc P là 1,153 miligam/lít khí thở, Hứa Trí T là 0,949 miligam/lít khí thở.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 825/KL-ĐG ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 xe đạp loại xe đòn ngang sử dụng để kéo thùng xe lôi, không vè, màu đen, trị giá 200.000 đồng; các bộ phận hư hại của xe ô tô biển số 67L-9180 gồm: Kính chắn gió phía trước; đèn trước bên phải, cản trước, nắp cabo, dè bánh trước, xương trong đầu xe, đồ kính trước, tổng giá trị 11.200.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 67/CT-VKSCĐ-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Hồ Ngọc P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và Hứa Trí T về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố; không có ý kiến tranh luận. Đối với đại diện hợp pháp cho bị hại T2 là bà Á có yêu cầu bồi thường thêm 50.000.000 đồng, trong giai đoạn điều tra, các bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại T2 số tiền 200.000.000 đồng, nay các bị cáo đồng ý bồi thường thêm cho bị hại Tín 50.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Hồ Ngọc P từ 02 năm đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 năm đến 05 năm. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Hứa Trí T số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Viết T2 số tiền 50.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự giao trả cho 01 xe đạp đã bị biến dạng cho đại diện của bị hại T2, tịch thu tiêu hủy lưỡi hái, quần áo, thắt lưng do không còn giá trị sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Trong giai đoạn điều tra, gia đình bị cáo P có yêu cầu Luật sư Nguyễn Quốc K1 thuộc Công ty L1 - Đoàn Luật sư tỉnh A là người bào chữa. Tuy nhiên, ngày 19/8/2024, Tòa án nhận được Thông báo của Luật sư K1 không còn là người bào chữa cho bị cáo P. Đồng thời, tại phiên tòa, bị cáo P xác định không yêu cầu người bào chữa. Do đó, bị cáo P tự bào chữa cho mình theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
- Tại phiên tòa, bị hại L, đại diện hợp pháp của bị hại T2 và những người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, sơ đồ và bản ảnh hiện trường, biên bản kiểm tra nồng độ cồn, các kết luận giám định, định giá, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tang vật được thu giữ, các tài liệu, chứng cứ được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 18/10/2023, sau khi đã sử dụng rượu bia, T giao cho P điều khiển xe ô tô biển số 67L-9810 lưu thông trên đường tránh Quốc lộ I, hướng từ T - C, do thiếu chú ý quan sát nên đã gây tai nạn cho xe đạp chạy cùng chiều do Tín điều K chở L, dẫn đến hậu quả Tín chết khi đang điều trị tại bệnh viện, L bị thương tích 19%.
Bị cáo Hồ Ngọc P là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc điều khiển xe ô tô tham gia giao thông trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà hơi thở có nồng độ (1.153 mg/ lít khí thở) vượt quá quy định sẽ gây nguy hiểm cho bản thân và người khác nhưng vẫn chủ
quan thực hiện. Do đó hành vi của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Hứa Trí T là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, xe ô tô biển số 67L-9810 do bị cáo quản lý, biết rõ bị cáo P đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia nhưng vẫn giao xe ô tô cho P điều khiển gây tai nạn làm chết bị hại T2. Do đó, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân, mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an toàn giao thông trên địa bàn thành phố C. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi gây tại nạn đã tự nguyện bồi thường cho các bị hại. Bị hại L và đại diện hợp pháp của bị hại T2 có đơn xin bãi nại, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Bên cạnh đó, nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông cũng có một phần lỗi của bị hại khi điều khiển xe đạp vào ban đêm nhưng không có báo hiệu bằng đèn hoặc vật phản quang. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo T còn được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có từ 02 tình tiết giảm trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong khi được tại ngoại để chờ điều tra, xử lý, các bị cáo đã chấp hành tốt chính sách pháp luật và các quy định tại địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới. Xét thấy, các bị cáo khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội, vì vậy Hội đồng xét
xử quyết định áp dụng hình phạt tù treo đối với bị cáo P và hình phạt tiền đối với bị cáo T cũng đủ răn đe, giáo dục và tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong xã hội.
Từ những phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo P không hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo T do đã xem xét áp dụng phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại L không có yêu cầu bồi thường thêm, đại diện hợp pháp của bị hại T2 yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm 50.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường. Xét thấy, sự thỏa thuận của các bên là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Giao trả cho đại diện bị hại Tín 01 xe đạp đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy lưỡi hái và quần áo do không còn giá trị sử dụng.
[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo T đã sửa chữa xe ô tô khoảng 12.000.000 đồng, không có yêu cầu bị cáo P bồi thường nên không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hồ Ngọc P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; bị cáo Hứa Trí T phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc P 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách đối với bị cáo là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 8 năm 2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Hứa Trí T 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
3. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, 585, 591; Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Hồ Ngọc P, Hứa Trí T bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Viết T2 là bà Trần Thị Á số tiền là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Căn cứ vào các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;
Giao trả cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Viết T2 là bà Trần Thị Á 01 xe đạp biến dạng;
Tịch thu tiêu hủy 01 lưỡi hái; 01 bộ quần áo của Hồ Ngọc P, 01 bộ quần áo của Hứa Trí T.
(Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Hồ Ngọc P, Hứa Trí T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và cùng chịu 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo bị hại L, đại diện hợp pháp của bị hại T2 là bà Á vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Võ Đại Nam |
Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 90/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T giao xe cho P điều khiển gây tai nạn giao thông
