|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/HS-ST
Ngày 20 tháng 08 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Khánh.
Ông Lê Viết Hồng.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh – TP Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh - TP Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 20/08/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh- TP Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/TLST-HS ngày 08/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST- HS ngày 08/08/2024 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Mai Văn H – sinh năm: 1977 - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; N sinh: phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Nơi thường trú: Tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 3/12 - Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ tên bố: Mai Văn N1; Đã chết; Họ tên mẹ: Lã Thị L - sinh năm: 1956; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ hai trong gia đình; Họ tên vợ, con: không;
Tiền án:
- + Ngày 17/11/2015, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích);
Tiền sự:
- 01 tiền sự 1996 –đã xóa;
Nhân thân:
- + Ngày 26/12/1998, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
- + Ngày 07/6/2000, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản;
- + Ngày 23/02/2001, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
- + Ngày 20/2/2003, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
- + Ngày 18/9/2008, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01- Công an thành phố H (số G E).
(Có mặt tại phiên toà)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Trần Thị P, sinh năm 1990. Địa chỉ Phường Thạch Bàn, quận Long Biên, Hà Nội
- Triệu Thị H1, sinh năm 2001. Địa chỉ khu Phú Sơn, xã Lương sơn, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ
- Nguyễn Thu L1, sinh năm 1984 . Địa chỉ số G ngõ V, phường C quận L (0828288982)
- Hoàng Văn D, sinh năm 1988. Địa chỉ Tổ A, phường C, quận L, thành phố Hà Nội (0332262602)
- Nguyễn Tiến H2, sinh năm 1988. Địa chỉ: thôn H, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội
- Mai Văn V, sinh năm 1975 . Địa chỉ: Tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội.
(Đều vắng mặt tại phiên toà)
* Người làm chứng: Triệu Ngọc M, sinh năm 2005. Địa chỉ: số A N, phường T, quận L, thành phố Hà Nội (0976681031)
(Vắng mặt tại phiên toà)
* Người chứng kiến: Khúc Thị P1, sinh năm 1959. Địa chỉ Tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội (0979525837)
(Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 20/12/2023, tại khu vực thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện M đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Tiến H2 (sinh năm 1988) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng liên quan và đưa về trụ sở để điều tra làm rõ. Quá trình điều tra mở rộng xác định:
Ngày 21/12/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện M phối hợp cùng Công an phường T, quận L, cùng chính quyền tổ dân phố tổ A, phường T đã tiến hành triệu tập Mai Văn V. Tại thời điểm triệu tập, trong nhà V có: Mai Văn V; Mai Văn H (em trai Vịnh); Triệu Thị H1; Nguyễn Thu L1 (sinh năm 1984, trú tại: số G ngõ V, phường C, quận L, thành phố Hà Nội); Trần Thị P (sinh năm 1990, trú tại: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An); Hoàng Văn D (sinh năm 1988, trú tại: Tổ A, phường C, quận L, Hà Nội); Triệu Ngọc M (sinh năm 2005, trú tại: Thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai). Lúc này, Mai Văn H tự nguyện giao nộp: 01 (một) cóong thuỷ tinh bám dính ma tuý tổng hợp Đ và 01(một) điện thoại nhãn hiệu Oppo A3S màu đỏ, số IMEI 1: 861570047830534, số IMEI 2: 861570047830526, bên trong máy lắp thẻ sim số 0342696977.
Ngày 21/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M khám xét khẩn cấp nơi ở của Mai Văn H tại tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội, kết quả: thu giữ tại tủ quần áo 01 (một) túi ni lông chứa tinh thể màu trắng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Mai Văn H thừa nhận ma túy trong coong thủy tinh là của H; Mai Văn H không thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thu giữ tại tủ quần áo của H.
Quá trình làm việc Mai Văn H có biểu hiện rối loạn tâm thần, Cơ quan CSĐT - Công an huyện M, Hà Nội đã ra Quyết định tách vụ án hình sự, tách hành vi, tài liệu, vật chứng liên quan đến Mai Văn H tiếp tục điều tra về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 11/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã ban hành Cáo trạng số 79/CT- VKS quyết định truy tố Nguyễn Tiến H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Nguyễn Văn D1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Mai Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Mua bán trái phép chất ma túy”; Trần Thị P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tại Bản án số 77/2024/ HS- ST ngày 12/7/2024 Tòa án nhân dân huyện Mê Linh đã xét xử vụ án đối với 04 bị cáo: Nguyễn Tiến H2, Nguyễn Văn D1, Mai Văn V, Trần Thị P.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 186/KLGĐ ngày 15/7/2024 của V1 kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Mai Văn H có hội chứng nghiện rượu/hội chứng nghiện nhiều loại ma túy kèm theo nấm phổi Aspergillus mạn tính. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F10.2/F19.2.
Tại thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vỉ”.
* Vật chứng vụ án
Quá trình bắt giữ đối tượng và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan gồm:
- Thu giữ của Mai Văn H
- + 01 (một) cóong thuỷ tinh chứa tinh thể màu trắng.
- + 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Oppo A3S màu đỏ, số IMEI 1: 861570047830534, số IMEI 2: 861570047830526, bên trong máy lắp thẻ sim số 0342696977.
Tại bản Kết luận giám định số 8777/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của phòng K Công an thành phố H, kết luận:
- - Tang vật thu giữ của Mai Văn H: Tinh thể màu trắng bên trong 01 coóng thủy tinh (ký hiệu A4) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,330 gam.
Quá trình giám định, Cơ quan giám định lấy 0,090 gam ma túy loại Methamphetamine làm mẫu giám định; còn lại 0,240 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn trả cho Cơ quan điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông (ký hiệu A5) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 11,430 gam.
Quá trình giám định, Cơ quan giám định lấy 0,280 gam ma túy loại Methamphetamine làm mẫu giám định; còn lại 11,150 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn trả cho Cơ quan điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Thu L1, quá trình điều tra xác định: Bản thân L1 không đóng góp, trao đổi, giúp sức hay được hưởng bất cứ lợi ích gì từ việc Mai Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu L1 âm tính với các chất ma túy do đó không có căn cứ để xem xét xử lý đối với Nguyễn Thu L1.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận một phần hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp tài liệu hồ sơ của vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 91/CT-VKS ngày 06/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố bị cáo: Mai Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng:
Hành vi của bị cáo Mai Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
* Về tội danh và hình phạt:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: điểm g khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo: Mai Văn H
Đề nghị xử phạt: Bị cáo Mai Văn H mức án từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù đến 07 (bẩy) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 0,240 gam ma túy loại Methamphetamine và 01 coong thủy tinh; 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 11,150 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 chai nhựa có ghi dòng chữ ICE+ vị đào, trên nắp chai có gắn một đoạn ống hút màu hồng, vàng, cam.
- + Trả bị cáo: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S, số IMEI 1: 861570047830534, số IMEI 2: 861570047830526, bên trong máy lắp thẻ sim 034.269.6xxx.
* Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.
* Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo qui định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] - Xét lời khai nhận một phần của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố.
HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/12/2023, tại tổ A phường T, quận L, thành phố Hà Nội, Mai Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 11,760 gam ma tuý loại Methamphetamine thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện M phối hợp với Công an phường T và chính quyền tổ dân phố phát hiện, bắt quả tang.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo theo nội dung cáo trạng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo và để giúp bị cáo sống lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.
[3] Xét nhân thân bị cáo: Tiền án: + Ngày 17/11/2015, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích); Tiền sự: 01 tiền sự 1996 –đã xóa; Nhân thân: + Ngày 26/12/1998, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; + Ngày 07/6/2000, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản; + Ngày 23/02/2001, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; + Ngày 20/2/2003, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; + Ngày 18/9/2008, Mai Văn H bị Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
[4] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa:
- - Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Lần này phạm tội là tái phạm. Cần áp dụng điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- - Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- + Bị cáo thành khẩn một phần khai báo.
- + Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
- + Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn.
- + Bị cáo hứa sửa chữa, không vi phạm pháp luật nữa.
- + Bị cáo bị bệnh hội chứng nghiện rượu/hội chứng nghiện nhiều loại ma túy kèm theo nấm phổi Aspergillus mạn tính. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F10.2/F19.2.
(có tài liệu chứng minh lưu giữ hồ sơ).
Nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Theo điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội để đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét theo qui định pháp luật, áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo mới đủ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù giam đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
[6] Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không có. Hội đồng xét xử không xét.
- - Về xử lý vật chứng, xét thấy cần:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 0,240 gam ma túy loại Methamphetamine và 01 coong thủy tinh; 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 11,150 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 chai nhựa có ghi dòng chữ ICE+ vị đào, trên nắp chai có gắn một đoạn ống hút màu hồng, vàng, cam.
- + Trả bị cáo: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S, số IMEI 1: 861570047830534, số IMEI 2: 861570047830526, bên trong máy lắp thẻ sim 034.269.6xxx.
[7] Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thu L1, quá trình điều tra xác định: Bản thân L1 không đóng góp, trao đổi, giúp sức hay được hưởng bất cứ lợi ích gì từ việc Mai Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu L1 âm tính với các chất ma túy do đó không có căn cứ để xem xét xử lý đối với Nguyễn Thu L1. Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã một phần khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 1 điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38; Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo: Mai Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 0,240 gam ma túy loại Methamphetamine và 01 coong thủy tinh; 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 11,150 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 chai nhựa có ghi dòng chữ ICE+ vị đào, trên nắp chai có gắn một đoạn ống hút màu hồng, vàng, cam.
- + Trả bị cáo: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S, số IMEI 1: 861570047830534, số IMEI 2: 861570047830526, bên trong máy lắp thẻ sim 034.269.6xxx.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/08/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh)
* Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Tô Thanh Phong |
Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 90/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai văn Hải và đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
