Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 90/2024/HS-ST

Ngày 19-9-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Sỹ Chiến.
  2. Bà Nguyễn Thị Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 05/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tráng Thị N, sinh năm 1978 tại huyện T, Lai Châu. Nơi cư trú: Bản Lầu, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tráng A (đã chết); con bà: Vàng Thị M, sinh năm: 1930; chồng: Vàng A D, sinh năm 1979; con: có 04 con, con lớn sinh nhất năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị khởi tố ngày 13/5/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty cổ phần T1; địa chỉ trụ sở: Số F, đường C, thành phố L, tỉnh Lai Châu; người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T – Chức vụ: Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Đức P, sinh năm 1986; nơi thường trú: Thôn C, xã L, huyện G, thành phố Hà Nội; nơi tạm trú: Bản Lầu, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt);

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lự Văn D1, sinh năm 1989; nơi thường trú: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai; nơi tạm trú: Bản Lầu, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
  2. Anh Vàng A L, sinh năm 1998; nơi cư trú: Bản Lầu, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt);

- Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Thào A S, sinh năm 1987; Nơi công tác: UBND xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lự Văn D1 ký hợp đồng làm việc với Công ty cổ phần T1, huyện T, tỉnh Lai Châu từ tháng 09/2021. Ngày 29/02/2024, Công ty cổ phần T1 giao cho anh Lự Văn D1 điều khiển máy xúc nhãn hiệu Kobelko 8K200, màu sơn xanh, biển số đăng ký 25XA-0341 của công ty đến thi công san gạt ở ven suối thủy điện thuộc địa phận bản Lầu, xã H, huyện T.

Đến khoảng 17 giờ ngày 29/02/2024, anh D1 điều khiển máy xúc đến khu vực ven suối bản Lầu nhưng không nắm rõ vị trí san gạt cụ thể nên anh D1 đã điều khiển máy xúc đào lấn nhầm sang phần đất ruộng của anh Vàng A L, sinh năm 1998, trú tại bản Lầu, xã H, huyện T. Lúc này, Tráng Thị N (mẹ đẻ của L) nhà ở gần đó nhìn thấy anh D1 lái máy xúc đã xúc đất, làm hư hỏng bờ ruộng của con mình là Vàng A L nên Tráng Thị N chạy đến nói bằng tiếng Mông và dùng hành động để yêu cầu anh D1 không làm nữa nhưng anh D1 không hiểu ý nên vẫn tiếp tục san gạt đất. N nghĩ rằng D1 cố tình nên đã chạy đến phần đầu của máy xúc ngăn không cho D1 xúc đất, quá trình xúc đất thì 01 hòn đá nhỏ từ gầu của máy xúc rơi ra trúng vào phần vai trái của N (không bị thương tích gì) làm cho N bức xúc. Do bực tức nên N dùng tay phải cầm nhiều hòn đá màu nâu, có nhiều góc cạnh ném vào máy xúc nhãn hiệu Kobelko 8K200, màu sơn xanh, biển số đăng ký 25XA-0341. Quá trình N ném đá có 02 viên trúng vào phần kính và làm vỡ 02 tấm kính (trong đó 01 kính chắn gió cabin phía trước, 01 kính chắn gió phía dưới hông bên phải) loại kính cường lực 04 lớp (loại kính hạt ngô) của máy xúc, mục đích của Tráng Thị N là cố ý làm hư hỏng tài sản, thỏa mãn bực tức của bản thân. Lúc này, Vàng A L đi làm ruộng về đến nên và yêu cầu D1 dừng việc xúc đất nhưng anh D1 vẫn tiếp tục làm nên L đã trèo lên buồng lái rút chìa khóa không cho D1 tiếp tục xúc đất ruộng của mình, còn N tiếp tục dùng đất đá ném vào máy xúc để thỏa mãn cơn tức giận của bản thân. Sau đó, L đã trả lại chìa khóa cho anh D1 và anh D1 về báo cáo sự việc với Công ty Cổ phần T1. Ngày 01/3/2024, Công ty Cổ phần T1 có đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý đối với hành vi cố ý làm hư

hỏng tài sản của Tráng Thị N và yêu cầu Tráng Thị N phải bồi thường thiệt hại. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T cùng các cơ quan chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và xác định số đất ruộng của gia đình Vàng A L bị thiệt hại là 32m².

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 02/KL- HĐĐGTS ngày 20/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Kính chắn gió cabin trước có trị giá là 16.747.000 đồng, kính chắn gió phía dưới bên hông phải có trị giá là 11.700.000 đồng, tổng trị giá tài sản bị hư hỏng là 28.447.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 06/KL- HĐĐGTS ngày 18/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 32m² đất lúa 01 vụ, vị trí 1, tại bản Lầu, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu trị giá là 1.120.000 đồng.

* Vật chứng của vụ án gồm:

Vật chứng thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường: 01 hòn đá màu nâu có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 10cm x 11cm x 04cm; 01 hòn đá màu nâu có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 10cm x 07cm x 05cm và 01 máy xúc nhãn hiệu Kobelko 8K200, màu sơn xanh, biển số đăng ký 25XA-0341.

Vật chứng do ông Lưu Đức P giao nộp: 01 bản sao có chứng thực 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số X-0794-XMCD do Sở giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 01/11/2022 cho máy xúc nhãn hiệu Kobelko 8K200, màu sơn xanh, biển số đăng ký 25XA-0341 được lưu trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 58/CT -VKS - TU, ngày 11/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Tráng Thị N về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tráng Thị N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tráng Thị N mức án từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, miễn hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập và miễn án phí cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 hòn đá màu nâu có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 10cm x 11cm x 04cm; 01 hòn đá màu nâu có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 10cm x 07cm x 05cm.

Về phần dân sự: Quá trình giải quyết vụ án bị hại Công ty Cổ phần T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lự Văn D1 không yêu cầu bị cáo Tráng Thị N phải bồi thường; Sau khi sự việc xảy ra anh Vàng A L thống nhất chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với tổng số diện tích 1.732,6m² đất lúa 01 vụ, vị trí 1, tại bản Lầu, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu của gia đình Vàng A L cho Công ty cổ phần T1 với số tiền là 320.000.000 đồng, về phần thiệt hại 32m² đất ruộng anh L không yêu cầu phải bồi thường; các bên không đề nghị gì thêm nên không đề nghị HĐXX xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Tráng Thị N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo N đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.

Bị hại Công ty Cổ phần T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Tráng Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 29/02/2024, tại bản Lầu, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu. Do bực tức, cho rằng Công ty Cổ phần T1 đã cho người lái máy xúc cố ý xúc đất làm hư hỏng bờ ruộng của con trai Vàng A L nên Tráng Thị N đã dùng tay phải cầm nhiều hòn đá màu nâu, có nhiều góc cạnh ném làm vỡ 02 tấm kính máy xúc nhãn hiệu Kobelko 8K200, màu sơn xanh, biển số đăng ký 25XA-0341 của Công ty Cổ phần T1 (trong đó 01 kính chắn gió cabin trước có trị giá là 16.747.000 đồng, 01 kính chắn gió phía dưới bên hông phải có trị giá là 11.700.000 đồng), tổng trị giá tài sản bị hư hỏng là 28.447.000 đồng, mục đích của Tráng Thị N là cố ý

làm hư hỏng tài sản của Công ty Cổ phần T1 nhằm thỏa mãn bực tức của bản thân.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những ảnh hưởng đến tài sản của bị hại mà còn làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Tráng Thị N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, không được đi học nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, người bị hại cũng có một phần lỗi và bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt; có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo được nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo không giam giữ cũng đã đảm bảo cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và công tác giáo dục phòng ngừa chung. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp, tuy nhiên mức đề nghị xử phạt từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ là quá nghiêm khắc đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm ruộng, thu nhập thấp và không ổn định nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Tráng Thị N.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 hòn đá màu nâu có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 10cm x 11cm x 04cm; 01 hòn đá màu nâu có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 10cm x 07cm x 05cm thu giữ trong quá trình giải quyết vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 bản sao có chứng thực giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số X-0794-XMCD do Sở giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 01/11/2022, biển số đăng ký 25XA-0341 là tài liệu liên quan đến việc giải quyết vụ án nên cần lưu tại hồ sơ vụ án.
  • - 01 máy xúc nhãn hiệu Kobelko 8K200, màu sơn xanh, biển số đăng ký 25XA-0341 xác định là tài sản hợp pháp của Công ty cổ phần T1. Ngày 14/5/2024, Cơ quan Cảnh điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 máy xúc nhãn hiệu Kobelko 8K200, màu sơn xanh, biển số đăng ký 25XA-0341 cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty cổ phần T1 là đảm bảo đúng quy định.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty cổ phần T1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không yêu cầu gì về phần bồi thường thiệt hại, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Các đối tượng, hành vi liên quan đến vụ án:

Trong vụ án này, anh Lự Văn D1 lái máy xúc làm rơi 01 hòn đá vào vai trái của Tráng Thị N. Quá trình điều tra xác định Tráng Thị N không bị thương tích gì nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý đối với hành vi này của anh Lự Văn D1 là có căn cứ.

Trong vụ án này, anh Lự Văn D1 là người lái máy xúc khi thi công công trình thủy điện Hố Mít thuộc địa phận bản Lầu, xã H, huyện T, khi anh D1 được Tráng Thị N và anh Vàng A L yêu cầu không được đào đất ruộng của anh L nhưng anh D1 vẫn tiếp tục đào vào phần đất của anh Vàng A L làm thiệt hại tài sản với số tiền là 1.120.000 đồng. Quá trình điều tra xác định anh Lự Văn D1 là người chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, Do đó, Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Tráng Thị N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Tráng Thị N 16 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Tráng Thị N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Miễn khấu trừ thu nhập và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Tráng Thị N.

Trường hợp bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy: 01 hòn đá màu nâu có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 10cm x 11cm x 04cm; 01 hòn đá màu nâu có nhiều góc cạnh, kích thước rộng 10cm x 07cm x 05cm.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 10 phút, ngày 23/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Tráng Thị N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên;
  • - Công an huyện Tân Uyên;
  • - Bị cáo; Bị hại.
  • - Người CQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (cố ý làm hư hỏng tài sản)

  • Số bản án: 90/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Tráng Thị N phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger