Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18-6-2024

V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Quế Minh;
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 79/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1984 (có mặt);
    Cư trú: Tổ C, ấp P, xã B, huyện C, An Giang.
  2. Bị đơn: Anh Cao Hoài S, sinh năm 1985 (vắng mặt);
    Cư trú: Tổ C, ấp P, xã B, huyện C, An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Cao Hoài S tự tìm hiểu và quen biết nhau, cả hai quyết định chung sống vào khoảng tháng 01 năm 2012, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn muộn vào ngày 09/05/2013 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, An Giang.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với cha mẹ chị tại B, C. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc không được bao lâu thì đến khoảng ngày 15 tháng 10 năm 2012, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh S không chung thủy, có người phụ nữ khác, anh S còn cờ bạc gây nợ, không lo tiếp kinh tế gia đình, thường xuyên nhận nhẹt, dẫn đến cự cãi, anh S còn chửi tục chị nên xảy ra ẩu đả, đánh nhau. Chị khuyên can anh S, anh có hứa với chị và cha mẹ hai bên là sẽ chăm lo cho gia đình, nhưng chỉ được một thời gian thì anh S vẫn như trước. Cha mẹ hai bên có hàn gắn nhiều lần nhưng không được.

Vào khoảng tháng 10/2023, vợ chồng đã ly thân. Đến mùng 04 Tết năm G Thìn 2024 thì anh S tự bỏ đi xuống Cần Thơ cho đến nay. Trong thời gian ly thân, anh S không về nhà mà chỉ đến ở gần nhà để dẫn hai con đi ăn và đi chơi, anh S cũng thường xuyên gọi điện về hỏi thăm hai con, nhưng không năn nỉ để hàn gắn vợ chồng, bản thân chị cũng không muốn đoàn tụ. Nay tình cảm vợ chồng không còn, một đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu được ly hôn với anh S.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Cao Tấn P, sinh ngày 15/10/2012 và Cao Cát T, sinh ngày 05/5/2015, hiện hai cháu đang sống với mẹ. Sau khi ly hôn, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Cao Hoài S: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh S đều vắng mặt không lý do. Tòa án không tiến hành lấy được lời khai của anh S, do anh không có mặt tại nhà vào thời điểm Tòa án đến và anh S cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị B.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án chấp nhận cho chị ly hôn với anh S. Về con chung: Yêu cầu được nuôi cháu Tấn P và Cát T, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh S: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B, giải quyết cho chị B được ly hôn với anh Cao Hoài S; về con chung: giao cháu Tấn P và Cát T cho chị B được tiếp tục nuôi dưỡng, anh S không cấp dưỡng nuôi con do chị B không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị B phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị B và anh Cao Hoài S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 09 tháng 5 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường B, Tp . nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị B yêu cầu ly hôn với anh S. Anh S có hộ khẩu thường trú ở ấp P, xã B, huyện C, An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Cao Hoài S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt. Việc vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh S theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau khi cưới, vợ chồng hạnh phúc được gần 01 năm, đến tháng 10 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị B yêu cầu được ly hôn với anh S.

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị B và anh S đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh S theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh S vắng mặt tại nhà. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh S đều vắng mặt, đồng thời không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng mà phía nguyên đơn chị B đã trình bày; không có văn bản thể hiện ý kiến hay có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị B. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị B và anh S đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị B là được ly hôn với anh Cao Hoài S.

[3] Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị B xác định giữa chị và anh Cao Hoài S có 02 con chung tên Cao Tấn P, sinh ngày 15/10/2012 và Cao Cát T, sinh ngày 05/5/2015. Mặt khác, giấy khai sinh của các cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận các cháu tên Cao Tấn P và Cao Cát T là con chung của chị B và anh S. Hai cháu hiện đang sống với chị B. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tấn P và Cát T. Từ khi anh chị ly thân, hai cháu đều sống với mẹ. Bên cạnh đó, tại Biên bản lấy lời khai của cháu Tấn P và Cát T đều thể hiện các cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống cho các cháu, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị B là được trực tiếp nuôi cháu Tấn P và Cát T.

[4] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.

Anh Cao Hoài S có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.

[5] Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí sơ thẩm: Do chị Nguyễn Thị B có yêu cầu ly hôn với anh Cao Hoài S nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;
  • - Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • - Xử:
  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị B đối với anh Cao Hoài S.
  2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận các cháu tên Cao Tấn P, sinh ngày 15/10/2012 và Cao Cát T, sinh ngày 05/5/2015 là con chung của chị Nguyễn Thị B và anh Cao Hoài S;
    • + Tiếp tục giao cháu Cao Tấn P và Cao Cát T cho chị Nguyễn Thị B được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành; Anh Cao Hoài S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị B không yêu cầu;
    • + Chị Nguyễn Thị Bích C các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
  3. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
  4. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
  5. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0004541 ngày 26/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang, được khấu trừ nên chị B đã nộp xong.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Cao Hoài S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND.Châu Thành;
  • - Chi cục THADS.Châu Thành;
  • - Cơ quan nơi đăng ký kết hôn;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Hà Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích . Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị B đối với anh Cao Hoài S. 2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận các cháu tên Cao Tấn P, sinh ngày 15/10/2012 và Cao Cát T, sinh ngày 05/5/2015 là con chung của chị Nguyễn Thị B và anh Cao Hoài S; + Tiếp tục giao cháu Cao Tấn P và Cao Cát T cho chị Nguyễn Thị B được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành; Anh Cao Hoài S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị B không yêu cầu; + Chị Nguyễn Thị Bích C các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. 3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger