TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST Ngày 17 – 7 – 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Em.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đông Hà.
- Ông Nguyễn Văn Em.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị L là Thư ký Toà án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vị Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2024/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 01 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện gửi Tòa án và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà và ông H tiến đến hôn nhân vào năm 2003 trên cơ sở tự nguyện, đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng về sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không giải quyết được, nhưng vì thương con bà cố chịu đựng. Từ năm 2022 đến nay, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, nguyên nhân do ông H thường xuyên nhậu nhẹt, chơi cờ bạc, không chăm lo cuộc sống gia đình, ông H còn có hành vi đánh đập bà nhiều lần, nhiền năm nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và đã sống ly thân nhau khoảng 03 tháng nay. Bà nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với ông H nữa nên bà yêu cầu ly hôn với ông H.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H1, (giới tính: Nữ), sinh ngày 19/4/2004 và Nguyễn Ngọc H2, sinh ngày 17/7/2009. Bà L yêu cầu được nuôi con chung chưa thành niên là cháu Nguyễn Ngọc H2 và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi nuôi con. Đối cháu H1 đã thành niên bà không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thanh H vắng mặt nên chưa thể hiện ý kiến.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị L giữ nguyên yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con, ngoài ra không còn yêu cầu nào khác. Ông Nguyễn Thanh H không đồng ý ly hôn vì cho rằng còn thương vợ con. Ông H xác nhận ông và bà L chung sống hạnh phúc từ khi cưới đến năm 2022. Từ năm 2023 đến nay, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa. Theo ông H, nguyên nhân bà L yêu cầu ly hôn là vì muốn chiếm đoạt tài sản của ông và không còn muốn sống chung với ông nên mới dọn ra ở riêng. Về việc bà L trình bày ông thường xuyên nhậu nhẹt và đánh đập bà L là không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, địa chỉ cư trú của bị đơn, Toà xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân, Tòa xét thấy: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh H tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của ông bà được công nhận hợp pháp. Quá trình chung sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, khi có mâu thuẫn ông bà đã không tạo điều kiện hàn gắn mà để mâu thuẫn kéo dài, bà L cũng đã dọn ra ở riêng. Bản thân ông H cũng thừa nhận cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, bà L không còn quan tâm đến ông. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần động viên bà L về đoàn tụ nhưng bà L vẫn cương quyết ly hôn, bà xác định không còn tình cảm với ông H, không thể tiếp tục chung sống với ông H nữa. Là vợ chồng, lẽ ra ông bà phải yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ để xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng ông bà đã không làm được điều đó. Vì vậy thấy rằng mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của ông bà đã thật sự trầm trọng, nếu tiếp tục chung sống sẽ không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Toà chấp nhận yêu cầu của bà L, cho bà L được ly hôn với ông H.
[3] Về con chung: bà L và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H1, (giới tính: Nữ), sinh ngày 19/4/2004 và Nguyễn Ngọc H2 (giới tính: Nữ), sinh ngày 17/7/2009. Bà L có yêu cầu được nuôi con chung là cháu Nguyễn Ngọc H2, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Tòa xét thấy: cháu H2 đã trên 07 tuổi có nguyện vọng được sống với mẹ nếu cha mẹ cháu ly hôn, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông H cũng không có tranh chấp về việc nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu H2 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom con chung cho ông H, không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: không có yêu cầu nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo mức không có giá ngạch theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.
- Về con chung: giao cháu Nguyễn Ngọc H2, sinh ngày 17/7/2009 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Thanh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: buộc bà Nguyễn Thị L chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp theo biên lai thu số 0008614 ngày 09/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy thành án phí.
- Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hoàng Em |
3
Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
