TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST Ngày 17-4-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Luyến
Ông Phạm Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị P, nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Hữu S, nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam: Tổ dân phố B, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số H, H.Ban K. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn – chị Bùi Thị P trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Lê Hữu S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng vào ngày 10 tháng 9 năm 2013. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn căng thẳng hơn từ năm 2018 anh S đi du lịch tại Úc, chị cùng con vẫn sinh sống ở quê (phường H, quận D). Từ thời điểm anh S đi du lịch ở nước ngoài, mỗi khi liên lạc với nhau thì vợ chồng xảy ra cãi vã do bất đồng với nhau về quan điểm sống, kinh tế, chơi bời không quan tâm đến gia đình và anh S có người phụ nữ khác. Mâu thuẫn căng thẳng hơn từ cuối năm 2023 anh S đi lao động tại Úc, do bất đồng với nhau về quan điểm sống, kinh tế, nên không khí trong gia đình trở lên rất căng thắng và nặng nề, ảnh hưởng rất nhiều đến việc học tập của các con. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần song không đạt kết quả. Anh chị có liên lạc qua điện thoại và nói về việc ly hôn, anh S đồng ý. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên tôi đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh S để nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị P và anh S có 01 con chung là Lê Tú A, sinh ngày 07/8/2014. Chị đề nghị giao con chung cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị xin tự giải quyết với anh S, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị P xin tự giải quyết với anh Lê Hữu S về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn ly hôn của bị đơn- anh Lê Hữu S trình bày:
Anh thống nhất với chị Bùi Thị P về quan hệ hôn nhân, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng. Nay, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên anh đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị P.
Về con chung: Anh thống nhất với lời khai của chị P: Anh và chị P có 01 con chung là Lê Tú A, sinh ngày 07/8/2014. Anh S đề nghị giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh xin tự giải quyết với chị P, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh S xin tự giải quyết với chị P về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Bùi Thị P và anh Lê Hữu S đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh chị giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện, bản tự khai và không có sự thay đổi nội dung nào khác.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Bùi Thị P và bị đơn anh Lê Hữu S đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Bùi Thị P và anh Lê Hữu S xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng vào ngày 10 tháng 9 năm 2013 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Bùi Thị P và anh Lê Hữu S đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị P. Về con chung: Giao con chung là Lê Tú A, sinh ngày 07/8/2014 cho anh S nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị P xin tự giải quyết với anh S nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Về tài sản chung: Chị P xin tự giải quyết với anh S, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn anh Lê Hữu S là công dân Việt Nam hiện nay đang ở nước ngoài (Australia), nguyên đơn chị Bùi Thị P hiện nay đang sinh sống tại thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là chị Bùi Thị P, bị đơn là anh Lê Hữu S vắng mặt nhưng đều có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Bùi Thị P và anh Lê Hữu S theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Bùi Thị P và anh Lê Hữu S xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận D, thành phố Hải Phòng vào ngày 10 tháng 9 năm 2013, theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng thể hiện: Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do sự xa cách về địa lý (anh S sinh sống ở Australia, chị P sinh sống ở Việt Nam), mỗi khi liên lạc với nhau thì vợ chồng thường xảy ra cãi vã do bất đồng với nhau về quan điểm sống, kinh tế. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau trong thời gian dài. Chị Bùi Thị P và anh Lê Hữu S đều thống nhất, thỏa thuận ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Bùi Thị P và anh Lê Hữu S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị P, xử cho chị Bùi Thị P được ly hôn với anh Lê Hữu S.
[4] Về con chung: Chị Bùi Thị P và anh Lê Hữu S đều xác nhận có một con chung là Lê Tú A, sinh ngày 07/8/2014. Xét thấy, cháu Lê Tú A có nguyện vọng được ở với anh S. Chị P và anh S đều thỏa thuận, thống nhất anh S trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc thỏa thuận nuôi con của chị P và anh S không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung cho anh S nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị P xin tự giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung với anh Lê Hữu S, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị P xin tự giải quyết với anh Lê Hữu S về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị P là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị P và anh Lê Hữu S được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị P ly hôn với anh Lê Hữu S.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Lê Tú A, sinh ngày 07/8/2014 cho anh Lê Hữu S nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị P xin tự giải quyết với anh Lê Hữu S, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở, người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị P xin tự giải quyết với anh Lê Hữu S, không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000815 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Thị P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Bùi Thị P (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Anh Lê Hữu S (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tuyến |
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Thị Luyến | Phạm Mạnh Hùng |
Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
