|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2024/HS-ST Ngày 17-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN – TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Chương.
Các hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- 2/ Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh H - Kiểm sát viên
Trong các ngày 12 và ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Châu Văn S sinh ngày 01/01/1975 tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi đăng ký thường trú: ấp F, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: tổ B, Huỳnh Thị N, ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán gà; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Châu Văn L (đã chết) và bà Đặng Thị T; hoàn cảnh gia đình có vợ tên Nguyễn Thị Q, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngọai, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Phước H1, sinh ngày 14/8/1985 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi đăng ký thường trú: ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: 182 kênh T, tổ B, ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn S1 và bà Nguyễn Thị T1; hoàn cảnh gia đình có vợ tên Nguyễn Thúy V, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/12/2023. (hiện đang tạm giam tại công an huyện H). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn Hùng C, sinh ngày 01/01/1983 tại tỉnh Hậu Giang; Nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: 3 N, khu phố D, phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Lê Thị Đ; hoàn cảnh gia đình có vợ tên Nguyễn Thị Mai A, có 01 người con, sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/12/2023 đến ngày 06/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngọai, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bùi Lâm D, sinh ngày 10/01/1975 tại tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: I P, Khu phố G, phường A, Quận G, TP . Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 542/12/18 Nguyễn Ảnh T2, tổ D, khu phố D, phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn H2 và bà Đàm Thị O; hoàn cảnh gia đình có vợ tên Hồ Thị G, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/12/2023 đến ngày 06/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngọai, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Thanh B, sinh ngày 02/11/1996 tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: 542/12/18 Nguyễn Ảnh T2, tổ D, khu phố D, phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: thợ may; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị T4; hoàn cảnh gia đình có vợ tên Lê Hồng P, có 01 người con sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/12/2023 đến ngày 06/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngọai, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Ngọc N1, sinh ngày 26/3/1990 tại tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: 409C, tổ C, ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: 542/12/18 Nguyễn Ảnh T2, tổ D, khu phố D, phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc Ầ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim Y (đã chết); hoàn cảnh gia đình chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/12/2023 đến ngày 06/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngọai, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 24/12/2023, Nguyễn Phước H1, Bùi Lâm D đến nhà của Châu Văn S tại ấp T, xã T, huyện H, TP . Hồ Chí Minh chơi. Lúc này, D hỏi S có gà khoảng 2,8kg để cáp độ đá gà thắng thua bằng tiền không. S hỏi H1, H1 nói có và đi về nhà lấy gà. S nói các bên đem gà đến bãi đất trống thuộc ấp T, xã T, huyện H để tổ chức đá gà. Khoảng 20 phút sau, D đem theo con gà đen đi cùng với Nguyễn Thanh B, Nguyễn Ngọc N1; Nguyễn Phước H1 đem theo con gà trắng đi cùng với Nguyễn Văn Hùng C đi đến địa điểm đã hẹn. Châu Văn S chuẩn bị cân, băng keo và làm trọng tài. Các bên thống nhất số tiền cáp độ của mỗi bên là 2.500.000đồng, S sẽ thu tiền xâu là 100.000đồng của bên thắng cược.
Bên cánh gà trắng của Nguyễn Phước H1 gồm: H1 góp số tiền 1.000.000đồng, C góp 1.000.000đồng, S góp 500.000đồng. H1 băng cựa gà, S thả gà.
Bên cánh gà đen của Bùi Lâm D gồm: Dũ góp số tiền 1.500.000đồng. Nhẫn góp 500.000đồng, B góp số tiền 500.000đồng. Dũ băng cựa gà, N1 thả gà.
Khi 02 con gà đang đá nhau, chưa phân thắng thua thì bị Đội Cảnh sát điều tra Hình sự Công an huyện H bắt quả tang.
Vật chứng:
- 3.830.000đồng, trong đó: tiền dùng vào việc đánh bạc là 3.000.0000đồng gồm Nguyễn Phước H1 1.000.000đồng, Bùi Lâm D 1.500.000đồng, Nguyễn Ngọc N1 500.000đồng; 830.000đồng là tiền cá nhân không dùng vào việc đánh bạc gồm: 514.000đồng của Nguyễn Phước H1, 197.000đồng của Bùi Lâm D; 119.000đồng của Nguyễn Ngọc N1.
- Riêng số tiền cược của Châu Văn S là 500.000đồng, Nguyễn Văn Hùng C 1.000.000đồng và Nguyễn Thanh B 500.000đồng, Cơ quan điều tra không thu giữ do các bị can không đem theo tiền, khi nào thua sẽ về lấy tiền trả cho bên thắng cược.
- 02 cặp cựa sắt bằng kim loại;
- 01 cân hiệu Nhơn Hòa loại 5kg
- 03 cuộn băng keo;
- 02 con gà đá, Cơ quan điều tra đã tiêu hủy theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 84/CT-VKSHM ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Châu Văn S, Nguyễn Phước H1, Nguyễn Văn Hùng C, Bùi Lâm D, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Ngọc N1 về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với người bị hại và đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, khỏan 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo như sau:
- Đề nghị xử phạt bị cáo Châu Văn S từ 09(chín) tháng đến 01(một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phước H1 từ 09(chín) tháng đến 01(một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng đến 02(hai) năm tính từ ngày tuyên án.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hùng C từ 09(chín) tháng đến 01(một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng đến 02(hai) năm tính từ ngày tuyên án.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Lâm D từ 09(chín) tháng đến 01(một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng đến 02(hai) năm tính từ ngày tuyên án.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B từ 09(chín) tháng đến 01(một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng đến 02(hai) năm tính từ ngày tuyên án.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N1 từ 09(chín) tháng đến 01(một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng đến 02(hai) năm tính từ ngày tuyên án.
- Đề nghị bị cáo Châu Văn S nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đồng liên quan đến việc đánh bạc; bị cáo Nguyễn Văn Hùng C nộp 1.000.000đồng; bị cáo Nguyễn Thanh B nộp 500.000đồng.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 cặp cựa sắt bằng kim loại, 03 cuộn băng keo.
- Đề nghị tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000đồng và 01 cân hiệu Nhơn Hòa loại 5kg.
- Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Phước H1 số tiền 514.000 đồng; trả lại cho bị cáo Bùi Lâm D số tiền 197.000đồng; trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc N1 số tiền 119.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Châu Văn S, Nguyễn Phước H1, Nguyễn Văn Hùng C, Bùi Lâm D, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Ngọc N1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, với lời khai của người làm chứng, với bản kết luận điều tra của công an huyện H, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 24/12/2023, các bị cáo Nguyễn Phước H1, Bùi Lâm D đến nhà của bị cáo Châu Văn S tại ấp T, xã T, huyện H, TP . Hồ Chí Minh chơi. Lúc này, bị cáo D hỏi bị cáo S có gà khoảng 2,8kg để cáp độ đá gà thắng thua bằng tiền không, bị cáo S hỏi bị cáo H1 và bị cáo H1 nói có rồi đi về nhà lấy gà. Bị cáo S nói các bên đem gà đến bãi đất trống thuộc ấp T, xã T, huyện H để đá gà. Khoảng 20 phút sau, bị cáo D đem theo con gà đen đi cùng với bị cáo Nguyễn Thanh B, bị cáo Nguyễn Ngọc N1; bị cáo Nguyễn Phước H1 đem theo con gà trắng đi cùng với bị cáo Nguyễn Văn Hùng C đi đến địa điểm đã hẹn. Bị cáo Châu Văn S chuẩn bị cân, băng keo và làm trọng tài. Các bên thống nhất số tiền cáp độ của mỗi bên là 2.500.000đồng, bị cáo S sẽ thu tiền xâu là 100.000đồng của bên thắng cược. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử các bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo Châu Văn S, Nguyễn Phước H1, Nguyễn Văn Hùng C, Bùi Lâm D, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Ngọc N1 là táo bạo và thực sự nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo ngại cho quần chúng nhân dân và dư luận xấu trong xã hội nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Trong khi Nhà nước tập trung thực hiện thiết lập kỷ cương, bài trừ tệ nạn xã hội thì hành vi của các bị cáo lại đi ngược với chủ trương chính sách Nhà nước. Trong vụ án này bị cáo S là người chuẩn bị băng keo, cân, cáp độ, làm trọng tài, thu tiền xâu của bên thắng cược nhưng không đủ căn cứ để cấu thành tội danh khác nên vai trò, hành vi phạm tội của bị cáo S sẽ khác với các bị cáo còn lại. Do đó Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà các bị cáo gây ra.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét:
[4] Xét về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, hiện các bị cáo có nghề nghiệp ổn định, nơi cư trú cụ thể rõ ràng. Bị cáo S được bác sỹ chuẩn đoán xuất huyết não đồi thị trái, xuất huyết nhân bèo trái cũ, tăng huyết áp người trẻ, rối loạn lipid máu. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, điểm s, khoản 1, khỏan 2 Điều 51 Bộ luật hình sự có phần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Từ nhận định trên Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng khoản 1, khoản 2, khỏan 5 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo mức án tù nhưng cho hưởng án treo và có thời gian thử thách nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tại phiên toà các bị cáo khai nhận bị cáo C góp 1.000.000đồng, bị cáo S góp 500.000đồng, bị cáo B góp 500.000đồng vào việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử xét thấy buộc các bị cáo C, S, B có nghĩa vụ nộp lại số tiền nêu trên vào ngân sách Nhà nước.
Hiện nay các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo S đang bị bệnh nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 02 con gà đá, Cơ quan điều tra đã tiêu hủy theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 02 cặp cựa sắt bằng kim loại, 03 cuộn băng keo là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với số tiền 3.000.000đồng và 01 cân hiệu Nhơn Hòa loại 5kg là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 830.000 đồng là tài sản cá nhân không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo cụ thể: trả lại cho bị cáo Nguyễn Phước H1 số tiền 514.000 đồng; trả lại cho bị cáo Bùi Lâm D số tiền 197.000 đồng; trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc N1 số tiền 119.000 đồng.
[7] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Xử phạt các bị cáo Châu Văn S, Nguyễn Phước H1, Nguyễn Văn Hùng C, Bùi Lâm D, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Ngọc N1 về tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, khỏan 1, khoản 2 Điều 51; khỏan 1, khỏan 2, khỏan 5 Điều 65; các Điều 32, 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Châu Văn S 01(một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 02(hai) năm tính từ ngày tuyên án
Giao bị cáo Châu Văn S cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước H1 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Phước H1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hùng C 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Hùng C cho Ủy ban nhân dân phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Bùi Lâm D 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Bùi Lâm D cho Ủy ban nhân dân phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh B cho Ủy ban nhân dân phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N1 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc N1 cho Ủy ban nhân dân phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khỏan 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự;
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Phước H1, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ điểm a, điểm c, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Hùng C nộp 1.000.000đồng, bị cáo Châu Văn S nộp 500.000đồng, bị cáo Nguyễn Thanh B nộp 500.000đồng vào ngân sách Nhà nước
Tịch thu tiêu hủy 02 cặp cựa sắt bằng kim loại, 03 cuộn băng keo.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000đồng và 01 cân hiệu Nhơn Hòa loại 5kg đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phước H1 số tiền 514.000đ (năm trăm mười bốn nghìn đồng); trả lại cho bị cáo Bùi Lâm D số tiền 197.000đ (một trăm chín mươi bảy nghìn đồng); trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc N1 số tiền 119.000đ (một trăm mười chín nghìn đồng).
(Vật chứng được ghi theo Quyết định chuyển vật chứng số 78/QĐ-VKS-HS ngày 27/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh và giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9061672 tại KBNN: Hóc Môn lập ngày 01/02/2024).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Buộc các bị cáo Châu Văn S, Nguyễn Phước H1, Nguyễn Văn Hùng C, Bùi Lâm D, Nguyễn Thanh B và Nguyễn Ngọc N1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để xin xét xử phúc thẩm.
(Đã giải thích chế định án treo)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Chương |
Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đánh bạc
- Số bản án: 90/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt các bị cáo Châu Văn S, Nguyễn Phước H1, Nguyễn Văn Hùng C, Bùi Lâm D, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Ngọc N1 về tội “ Đánh bạc”. - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, khỏan 1, khoản 2 Điều 51; khỏan 1, khỏan 2, khỏan 5 Điều 65; các Điều 32, 50 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Châu Văn S 01(một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 02(hai) năm tính từ ngày tuyên án Giao bị cáo Châu Văn S cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước H1 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Phước H1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hùng C 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Văn Hùng C cho Ủy ban nhân dân phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xử phạt bị cáo Bùi Lâm D 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Bùi Lâm D cho Ủy ban nhân dân phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Thanh B cho Ủy ban nhân dân phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N1 09(chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc N1 cho Ủy ban nhân dân phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
