Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 90/2024/HS-ST

Ngày: 14-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Yêm

Bà Hoàng Thị An

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: TRƯƠNG VĂN T7, sinh năm 1993; Nơi đăng ký thường trú: Xóm A, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ở: Chung cư C, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Văn V và bà Dư Thị S; Có vợ: Nguyễn Thị H; Có 01 con, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 17/01/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện đạng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: TRIỆU QUANG B2, sinh năm 1992; Nơi đăng ký thường trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ở: Thôn Đ, xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Triệu Ngọc K và bà: Nguyễn Thị L; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 17/01/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện đạng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: LƯU MAI N, sinh năm 1988; Nơi đăng ký thường trú: Xóm G, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở: Số H, ngõ F đường Đ, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Quý T (đã chết) và bà: Trịnh Thị T1; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 17/01/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện đạng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: NGUYỄN VĂN B1, sinh năm 1984; Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã Q, huyện P, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Đ, thôn B, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T2 và bà: Đặng Thị Đ; Có vợ: Nguyễn Thị T3; Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 17/01/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện đạng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: PHẠM DOÃN T6, sinh năm 1976; Nơi đăng ký thường trú: Số B, ngõ C, phố S, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số A, ngách A, ngõ F, đường C, phường Q, quận C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Duy T4 và bà: Nguyễn Thị M; Có vợ: Nguyễn Thị Kim T5; Có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 17/01/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giữ, hiện đạng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ 50 phút ngày 10/01/2024, Tổ công tác Đ1, Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã H phát hiện tại phòng nghỉ của Công ty TNHH K1, địa chỉ tại Khu dân cư T, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội các đối tượng Phạm Doãn T6, Trương Văn T7, Nguyễn Văn B1, Lưu Mai N, Triệu Quang B2 đang đánh bạc ăn tiền dưới hình thức chơi “liêng”. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng về trụ sở Công an để làm rõ.

Vật chứng tạm giữ gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ gồm 52 quân bài và số tiền 8.800.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/01/2024, sau khi ăn uống xong, các bị cáo Phạm Doãn T6, Trương Văn T7, Nguyễn Văn B1, Lưu Mai N, Triệu Quang B2 về phòng nghỉ của Công ty TNHH K1, địa chỉ tại Khu dân cư T, xã H, huyện Đ để nghỉ. Sau đó, T6, T7, B1, N, Báo rủ nhau đánh bạc ăn tiền dưới hình thức chơi “liêng”. Báo lấy bộ bài có sẵn ở trong phòng rồi chia ra 04 phần, mỗi phần 03 lá bài cho các bị cáo Báo, T6, T7, N, còn Nguyễn Văn B1 ngồi ngoài chung cửa với Trương Văn T7. Các bị cáo đánh được khoảng 15 ván bạc thì Báo hết tiền nên B1 vào đánh bạc thay vị trí của Báo. Quá trình đánh bạc, các bị cáo thống nhất mức sát phạt như sau: Bắt đầu tham gia đánh bạc mỗi người góp 10.000 đồng để vào giữa chiếu bạc, khi tố tiền thì tối đa là 100.000 đồng, không khống chế số lần tố tiền cho đến khi những người tham gia không còn ai tố thì dừng lại mở bài tính điểm. Hình thức đánh “liêng” được quy định như sau: Những người tham gia đánh bạc sử dụng bộ bái tú lơ khơ 52 quân, mỗi người tham gia chơi được chia 03 lá bài để tính điểm. Nếu người nào được 03 lá bài cùng số là lớn nhất (sáp), sau đến 03 lá bài có số liên tiếp nhau (liêng), cuối cùng là tính điểm. Các lá bài J, Q, K không tính điểm, các lá bài từ 1 đến 9 được tính điểm. Khi bắt đầu chơi mỗi người tham gia chơi góp số tiền 10.000 đồng vào giữa chiếu bạc, người cầm cái sẽ tố trước, tiếp đến lần lượt là người ngồi bên tay phải sẽ tố tiếp theo, nếu ai không theo thì úp bài. Sau khi tất cả đã tố hết, còn lại những người chơi đến cuối sẽ mở bài tính điểm. Người thắng sẽ được lấy toàn bộ số tiền ở chiếu bạc và được chia ván bài tiếp theo. Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, khi các các bị cáo đang đánh đánh bạc thì bị Cơ quan công an phát hiện, bắt quả tang.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận sử dụng số tiền vào việc đánh bạc như sau:

  • - Phạm Doãn T6 mang theo 300.000 đồng để đánh bạc cùng với T7, N, B2, B1, tham gia đánh khoảng 50 ván, khi bị bắt quả tang thua hết tiền.
  • - Trương Văn T7 mang theo 3.000.000 đồng để đánh bạc, ngồi chung cửa với B1, chơi được khoảng 15 ván, khi bị bắt quả tang đang thắng 500.000 đồng và để hết tiền dưới chiếu bạc.
  • - Nguyễn Văn B1 mang theo 350.000 đồng để đánh bạc, chung cửa với T7. Khi Báo hết tiền, B1 vào thay chỗ của Báo, trực tiếp tham giá đánh bạc được 02 ván thì bị phát hiện bắt quả tang đang thua hết tiền.
  • - Lưu Mai N khai mang theo 1.200.000 đồng để đánh bạc, đánh được 10 ván thì bị phát hiện bắt quả tang đang thua 600.000 đồng; số tiền còn lại để dưới chiếu, bị tạm giữ theo biên bản bắt người phạm tội qua tang.
  • - Triệu Quang B2 mang theo 180.000 đồng để đánh bạc, đánh được khoảng 15 ván thì thua hết tiền nên ra ngoài cho B1 vào thay.

Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được.

Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ và số tiền 8.800.000 đồng là vật chứng của vụ án, chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh để phục vụ công tác xét xử.

Cáo trạng số 66/CT-VKS-ĐA ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trương Văn T7, Triệu Quang B2, Lưu Mai N, Nguyễn Văn B1 và Phạm Doãn T6 về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi như nội dung Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo khai nhận, các bị cáo là công nhân, làm cùng Công ty quen biết nhau từ trước, hôm đó trời mưa, xưởng không làm việc nên các bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc ăn tiền bằng hình thức chơi “Liêng”. Các bị cáo biết đánh bạc ăn tiền là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn T7 từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Triệu Quang B2 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Lưu Mai N từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B1 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Phạm Doãn T6 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với mỗi bị cáo 10.000.000 đồng. Và đề nghị xử lý vật chứng, quyền kháng cáo và án phí của vụ án theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng các bị cáo trình bày: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, các bị cáo rất hối hận; các bị cáo đều là công nhân, là lao động chính trong gia đình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất của pháp luật để các bị cáo có điều kiện sửa chữa, được tiếp tục được lao động và chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với nhau; phù hợp với nội dung Biên bản phạm tội quả tang, Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 10/01/2024, các bị cáo Trương Văn T7, Triệu Quang B2, Lưu Mai N, Nguyễn Văn B1 và Phạm Doãn T6 đã có hành vi đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Liêng” tại phòng nghỉ công nhân của Công ty TNHH K1 tại Khu dân cư T, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang với tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 8.800.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội đánh bạc, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố các bị cáo về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người và đúng tội.

Nội dung khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[3] Xét tính chất đồng phạm và vai trò của từng bị cáo trong vụ án xét thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo là công nhân cùng Công ty, do trời mưa không làm được việc nên các bị cáo cùng rủ nhau tham gia đánh bạc, cùng là người thực hành và có vai trò ngang nhau.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Bị cáo T7 có bố là cựu chiến binh, tham gia công an xã, được tặng thưởng giấy khen; bị cáo B2 là người dân tộc thiểu số, có bố tham gia kháng chiến, được tặng thưởng huy chương; bị cáo B1 có bố, mẹ tham gia quân đội, được tặng thưởng bằng khen; bị cáo N là người dân tộc thiểu số, có bố tham gia kháng chiến, là bệnh binh nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án tiền sự nên được xác định là có nhân thân tốt.

[5] Hành vi đánh bạc của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng do Nhà nước quản lý, gây mất trật tự, an ninh tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do tham lam tư lợi, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội, do đó, cần xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự để răn đe các bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến thời gian, số tiền mỗi bị cáo sử dụng đánh bạc để đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mỗi bị cáo; xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mỗi bị cáo được hưởng và nhân thân của mỗi bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo và cá thể hóa hình phạt đối với mỗi bị cáo, xét thấy: bị cáo T7, bị cáo N có số tiền sử dung vào việc đánh bạc lớn hơn nên phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc không lớn; hoàn cảnh các bị cáo phạm tội do bột phát; các bị cáo đều là công nhân, là lao động chính trong gia đình; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên cần xét xử các bị cáo hình phạt tù trong khung hình phạt nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giúp đỡ, giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho các bị cáo được tiếp tục lao động, giúp đỡ cho gia đình và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đều là công nhân, là lao động chính trong gia đình thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ, 52 quân bài không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với số tiền 8.800.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trương Văn T7, Triệu Quang B2, Lưu Mai N, Nguyễn Văn B1 và Phạm Doãn T6 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn T7 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An (nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Triệu Quang B2 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Tuyên Quang (nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Mai N 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện P, thành phố Hà Nội (nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Doãn T6 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội (nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

- Căn cứ vào: khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: Nếu “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

- Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ, 52 quân bài có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/4/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 8.800.000 đồng (tám triệu, tám trăm nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1047882 ngày 03/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh tại Kho bạc nhà nước huyện Đ.

Các bị cáo Trương Văn T7, Triệu Quang B2, Lưu Mai N, Nguyễn Văn B1 và Phạm Doãn T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Ủy ban nhân dân xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An;
  • - Ủy ban nhân dân xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang;
  • - Ủy ban nhân dân xã Phúc Tân, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên;
  • - Ủy ban nhân dân xã Quang Trung, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội;
  • - Ủy ban nhân dân phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Anh Tuấn

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 90/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T7 và đồng phạm - Tội đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger