|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/HSST.
Ngày: 12 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Thủy và bà Trịnh Thị Kim Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Vì Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/TLST- ST ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Sa Huy H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1998, tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Tiểu khu C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Sa Hồng Huân, con bà Đinh Thị L; Bị cáo có vợ là Cầm Thị Vân A (Đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2019 Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V kể từ ngày 09 tháng 5 năm 2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Công ty cổ phần D địa chỉ: 4 X, N, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy H1, chức danh: Tổng Giám Đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lường Văn C, chức vụ: Quản lý khu vực huyện V, sinh năm 1995, địa chỉ: Bản H, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa
Người làm chứng: Anh Giàng A T, anh Bàn Văn M, anh Giàng A L1, anh Bản Văn H2, chị Sùng Y H3, vắng mặt tại phiên tòa.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/01/2023, Sa Huy H ký hợp đồng làm nhân viên quản lý kho và tài chính với Công ty cổ phần D – Chi nhánh tỉnh S làm việc tại bản Hua Tạt, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Theo hợp đồng H có nghĩa vụ kiểm tra đơn hàng trên xe vận chuyển của công ty, nhận hàng của công ty tại kho, rồi giao hàng cho nhân viên giao hàng đi chuyển phát cho khách trên địa bàn huyện V, đến cuối ngày hoặc sáng ngày hôm sau H thu tiền của nhân viên giao hàng bằng hình thức nhận tiền trực tiếp và chuyển khoản vào số tài khoản 4120222125 của H mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) - Chi nhánh tỉnh S rồi H có trách nhiệm vào hệ thống của công ty để làm thao tác xác nhận đã nhận tiền của các đơn hàng mà nhân viên đã đi giao và thực hiện việc chuyển tiền vào tài khoản của Công ty cổ phần D. Quá trình làm việc đến ngày 09/6/2023, H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Công ty cổ phần D giao hàng nhanh để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Trong sáng ngày 10/6/2023, H nhận tiền chuyển phát từ 05 nhân viên giao hàng bằng hình thức nhận chuyển khoản từ tài khoản cá nhân của các nhân viên chuyển khoản cho H là 17.633.000 đồng và nhận tiền mặt là 48.165.635 đồng. Tổng số tiền là 65.798.520 đồng theo phiếu thu chi tiết lập ngày 09/6/2023 bao gồm: Anh Giàng A T 57 đơn hàng với tổng số tiền là 2 19.603.200 đồng: Anh Bàn Văn M 35 đơn hàng với tổng số tiền là 6.053.010 đồng: Anh Giàng A L1 46 đơn hàng với tổng số tiền là 13,296.897 đồng. Anh Bàn Văn H4 47 đơn hàng với tổng số tiền là 10.408.700 đồng, Chị Sùng Y H3 79 đơn hàng với tổng số tiền là 16.436.713 đồng. Sau khi nhận tiền, H đã tắt điện thoại, bỏ trốn về thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình để công ty không liên lạc và không tìm được H. Sau khi phát hiện sự việc Công ty cổ phần D đã nhiều lần liên lạc và cử người tìm H. Tuy nhiên Hoàng cắt đứt mọi cách liên hệ, không trả tiền công ty. Đến ngày 08/5/2024, Công ty cổ phần D đã làm đơn tố giác đến Cơ quan CSĐT Công an huyện V để được giải quyết. Sau khi tiếp nhận đơn tổ giác, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã triệu tập, lấy lời khai đổi với Sa Huy H. Quá trình điều tra, H đã khai nhận rõ hành vi phạm tội như nêu trên; đồng thời khai rõ đối với số tiền 65.798.520 đồng chiếm đoạt của Công ty cổ phần D giao hàng nhanh, H đã sử dụng để mua 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S BKS: 28K1-027.21 và chi tiêu cá nhân hết. Tạm giữ của Sa Huy H: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S BKS: 28K1-027.21 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO bên trong lắp 02 sim điện thoại đều đã qua sử dụng.
Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, truy tố Sa Huy H về tội: Tham ô tài sản, theo khoản 1 Điều 353 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Sa Huy H phạm tội: Tham ô tài sản.
2
- - Áp dụng khoản 1 Điều 353, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Sa Huy H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội: Tham ô tài sản. Không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, BKS: 28K1-027.21 đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Sa Huy H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen bên trong chứa 02 sim số: 0343.667.789 và số 0914.961.315 đã qua sử dụng.
- - Về bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho Công ty cổ phần D số tiền 65.798.520 đồng.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu Hình sự sơ thẩm, án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của đại diện cho bị hại nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát, đề nghị hội đồng xét xử, xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật, yêu cầu bị cáo bồi thường cho Công ty cổ phần D số tiền 65.798.520 đồng.
Bị cáo nhất trí với lời luận tội của Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh của bị cáo: Sa Huy H ký hợp đồng làm nhân viên quản lý kho và tài chính với Công ty cổ phần D – Chi nhánh tỉnh S làm việc tại bản Hua Tạt, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Theo hợp đồng H có nghĩa vụ kiểm tra đơn hàng trên xe vận chuyển của công ty, nhận hàng của công ty tại kho, rồi giao hàng cho nhân viên giao hàng đi chuyển phát cho khách trên địa bàn huyện V. H có trách nhiệm thu tiền của nhân viên giao hàng bằng hình thức nhận tiền trực tiếp và chuyển khoản vào số tài khoản của H và có trách nhiệm chuyển lại tiền cho công ty. Ngày 10/6/2023, H nhận tiền chuyển phát từ 05 nhân viên giao hàng bằng hình thức nhận chuyển khoản từ tài khoản cá nhân của các nhân viên chuyển khoản cho H tổng số tiền là 65.798.520 đồng. Sau khi nhận tiền, H đã tắt điện thoại, bỏ trốn nhằm chiếm đoạt số tiền 65.798.520 đồng của Công ty cổ phần D – Chi nhánh tỉnh S, quá trình bỏ trốn H đã chi tiêu hết số tiền đã chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Tham ô tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
3
[2]. Tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, 65.798.520 đồng Công ty cổ phần D. Hành vi của bị cáo đã lợi dụng quyền hạn của mình được giao, chiếm đoạt tài sản của công ty do mình quản lý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm dăn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
[3] Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức, biết rõ tài sản bị cáo quản lý là của công ty, được pháp luật bảo vệ, coi thường pháp luật, cố tình phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết năng nặng: không có
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo bị phạt hình phạt tù có thời hạn nên không thể đảm nhiệm công tác hiện tại trong khoảng thời gian nhất định, tỉnh nguy hiểm của hành vì bị cáo gây ra cho xã hội không còn nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 353 của Bộ luật hình sự để phạt bổ sung đối với bị cáo cầm đảm nhiệm công việc nhất định.
Về bồi thường dân sự: Bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 65.798.520 đồng của Công ty cổ phần D, nay Công ty Công ty cổ phần D giao hàng nhanh yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 65.798.520 đồng và không yêu cầu bị cáo phải trả công ty khoản chi phí nào khác là đúng quy định, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6]. Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhân hiệu Honda Wave S màu đen đỏ, BKS: 28K1-027.21, bị cáo dùng tiền phạm tội để mua do vậy tịch thu sung quỹ Nhà Nước
4
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, bên trong lắp 02 sim điện thoại là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội do vậy trả lại cho bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm, án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 353, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Sa Huy H, phạm tội: Tham ô tài sản.
Xử phạt Bị cáo Sa Huy H 03 (Ba) năm tù về tội: Tham ô tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024.
Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về bồi thường dân sự: Căn cứ các điều 584, 585, 586. 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo phải trả cho Công ty cổ phần D giao hàng nhanh số tiền 65.798.520 đồng (Sáu mươi lăm triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn năm trăm hai mươi đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo vi pham nghĩa vụ trả nợ theo định kỳ như đã thỏa thuận, bị hại có quyền yêu cầu thi hành án toàn bộ số tiền chưa trả và kẻ từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành ăn xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhân hiệu Honda Wave S màu đen đó, BKS: 28K1-027.21, số khung RLHJC 5279DY010357, số máy JC52E-1142765 da qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, bên trong lắp 02 sim điện thoại đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 99 ngày 27/8/2024 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
5
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 3.289.000 (Ba triệu hai trăm tám mươi chín nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hồng nghiêm |
6
Bản án số 90/2024/HSST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA về tham ô tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 90/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sa Huy H ký hợp đồng làm nhân viên quản lý kho và tài chính với Công ty cổ phần Dịch vụ giao hàng nhanh – Chi nhánh tỉnh Sơn La làm việc tại bản Hua Tạt, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Theo hợp đồng H có nghĩa vụ kiểm tra đơn hàng trên xe vận chuyển của công ty, nhận hàng của công ty tại kho, rồi giao hàng cho nhân viên giao hàng đi chuyển phát cho khách trên địa bàn huyện Vân Hồ. H có trách nhiệm thu tiền của nhân viên giao hàng bằng hình thức nhận tiền trực tiếp và chuyển khoản vào số tài khoản của H và có trách nhiệm chuyển lại tiền cho công ty. Ngày 10/6/2023, H nhận tiền chuyển phát từ 05 nhân viên giao hàng bằng hình thức nhận chuyển khoản từ tài khoản cá nhân của các nhân viên chuyển khoản cho H tổng số tiền là 65.798.520 đồng. Sau khi nhận tiền, H đã tắt điện thoại, bỏ trốn nhằm chiếm đoạt số tiền 65.798.520 đồng của Công ty cổ phần Dịch vụ giao hàng nhanh – Chi nhánh tỉnh Sơn La, quá trình bỏ trốn H đã chi tiêu hết số tiền đã chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Tham ô tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự
