|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2024/DSST; Ngày 10 tháng 8 năm 2024. V/v: Tranh chấp Hợp đồng góp vốn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Thế V;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị H;
Bà Nguyễn Thị V.
- Thư ký phiên toà: Ông Doãn Khắc Huy H – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Phong Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2024, Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp vốn” giữa:
- Nguyên đơn: Bà Hứa Thị Bích H, sinh năm 1982.
Địa chỉ: 169 Trần Hưng Đạo, phường G, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Công ty Luật TNHH Quốc tế và Cộng sự;
Địa chỉ: Số 42 Tôn Thất Tùng, phường B, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quang T – Giám đốc.
Có mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Công ty cổ phần H (Sau đây gọi tắt là Công ty OCH).
Địa chỉ: Tầng 8, Tòa nhà Leadvisors Tower Số 643 Phạm Văn Đồng, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thu K– Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền:
- Bà Nguyễn Thị Lê Dung, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tòa nhà R2B – Royal City, 72A, quận X, thành phố Hà Nội.
- Bà Trần Thanh Huyền, sinh năm: 1990. Địa chỉ: TDP Hoàng Liên, phường L, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Ông Phan Thành Long, sinh năm: 1992. Địa chỉ: P1802, số 6/51/15 Ngọc Hồi, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày ý kiến trong các bản khai, biên bản công khai chứng cứ và tại phiên hoà giải cũng như trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Từ tháng 11/2017, bà Hứa Thị Bích H có nhận được văn bản Đề nghị thanh toán số: 156C/2017/ĐNTT-OCH đề ngày 31/10/2017 của Công ty CP D (OCH) có nội dung như sau:
“Căn cứ vào hợp đồng sổ 16/2012/HĐGV-OCH ngày 06/03/2012 giữa Công ty CP D và bà Hứa Thị Bích H.
Tổng số tiền bà Hứa Thị Bích H còn phải thanh toán cho OCH tính đến ngày 30/9/2017 cụ thể những khoản sau:
- - Tiền góp vốn theo hợp đồng: 40.000.000.000 đồng.
- - Tiền chỉ phí sử dụng vốn tính đến ngày 30/9/2017: 24.473.348.556 đồng
Tổng số tiền còn phải thanh toán cho OCH là: 64.473.348.556 đồng (Sáu mươi bốn tỷ, bốn trăm bảy mươi ba triệu, ba trăm bốn mươi tám ngàn, năm trăm năm mươi sáu đồng chẵn)
Bằng công văn này, Công ty OCH yêu cầu bà H thanh toán số tiền nợ trên trước ngày 30/11/2017 vào tài khoản của Công ty OCH.”
Lúc bấy giờ bà H hoàn toàn không biết gì về hợp đồng góp vốn đã kí với Công ty OCH và khoản nợ mà Công ty OCH đề nghị bà thanh toán. Công ty OCH cũng không cung cấp thêm văn bản nào khác gửi đính kèm công văn này để thông tin về khoản nợ trên. Vì nhận thấy mình không liên quan đến việc góp vốn mà Công ty OCH nói tới nên bà H không thực hiện theo đơn Đề nghị thanh toán này.
Sau đó, công ty OCH gửi tiếp cho bà H: đơn Đề nghị thanh toán số 88C/2017/ĐNTT-OCH đề ngày 30/7/2018, căn cứ vào Hợp đồng số 16/2012/HĐGV-OCH để đề nghị bà H thanh toán tiền góp vốn là: 40.000.000.000 đồng, chi phí sử dụng vốn tính đến 30/6/2018 là 27.764.307.406 đồng, tổng số tiền bà H phải thanh toán cho Công ty OCH là 67.764.307.460 đồng; Và đơn Đề nghị thanh toán số 100H/2018/ĐNTT-OCH đề ngày 30/9/2018 đề nghị bà H thanh toán tổng số tiền 68.873.348.556 đồng.
Bà H chắc chắn rằng mình không giao kết hợp đồng góp vốn nêu trên với Công ty OCH nên đã gửi Đơn đề nghị đề ngày 16/11/2018 tới Công ty OCH với nội dung: bà H không giao dịch và ký kết văn bản góp vốn nêu trên với quý Công ty. Để tránh xung đột về quyền, lợi ích hợp pháp từ các bên, bà H đề nghị quý Công ty cung cấp toàn bộ hợp đồng nêu trên và hồ sơ có liên quan. Tuy nhiên, Công ty OCH không phản hồi về đề nghị cung cấp hồ sơ của bà H.
Công ty OCH tiếp tục gửi đến bà H đơn Đề nghị thanh toán số 129/2019/ĐNTT-OCH đề ngày 08/01/2019 yêu cầu bà H thanh toán số tiền góp vốn là 40.000.000.000 đồng, chi phí sử dụng vốn tính đến ngày 31/12/2018 là 29.982.389.651 đồng, tổng số tiền bà H phải thanh toán cho Công ty OCH là 69.982.389.651 đồng.
Bà H đã phản hồi lại Công ty OCH bằng Đơn đề nghị cung cấp hồ sơ góp vốn, hồ sơ liên quan đến việc góp vốn và dừng gửi đề nghị thanh toán (lần 02) đề ngày 21/01/2019 để khẳng định một lần nữa bà H không giao dịch, ký kết hợp đồng góp vốn với Công ty OCH, đề nghị Công ty OCH không gửi đề nghị thanh toán gì đến bà H nữa.
Công ty OCH tiếp tục gửi đến bà H: đơn Đề nghị thanh toán số 97C/2019/ĐNTT-OCH đề ngày 30/9/2019 yêu cầu bà H thanh toán số tiền góp vốn là 40.000.000.000 đồng, chi phí sử dụng vốn tính đến ngày 30/09/2019 là 33.285.403.350 đồng, tổng số tiền bà H phải thanh toán cho Công ty OCH là 73.285.403.350 đồng; và Biên bản đối chiếu công nợ đề ngày 30/9/2019 xác nhận công nợ tính đến ngày 31/03/2015 nhưng chỉ có chữ ký, đóng dấu của Kế toán trưởng Công ty OCH, không có chữ ký của bà H.
Bà H cũng phản hồi lại công văn trên bằng đơn Đề nghị cung cấp hồ sơ góp vốn hồ sơ liên quan đến việc góp vốn và dừng gửi đơn đề nghị thanh toán đề ngày 12/10/2019, nhắc lại lần nữa bà H không ký kết hợp đồng với Công ty OCH và đề nghị công ty cung cấp cho bà H bộ hồ sơ hợp đồng mà công ty căn cứ vào đó để yêu cầu bà H thanh toán tiền góp vốn và tiền lợi nhuận. Nhưng phía Công ty OCH vẫn không phản hồi.
Ngày 26/3/2021, Công ty OCH tiếp tục gửi đến bà H: đơn Đề nghị thanh toán số 31/2021/ĐNTT-OCH yêu cầu bà H thanh toán cho Công ty OCH số tiền vốn là: 40.000.000.000 đồng, tiền lợi nhuận OCH được hưởng tính đến ngày 31/12/2020 là: 42.133.622.528 đồng, tổng số tiền phải thanh toán là: 82.133.622.528 đồng.
Sau nhiều lần Công ty OCH gửi đề nghị thanh toán nhưng khi bà H gửi phản hồi yêu cầu cung cấp hồ sơ liên quan thì không thấy Công ty OCH cung cấp, bà H đã yêu cầu được gặp mặt trực tiếp đại diện của Công ty OCH để trao đổi cụ thể.
Ngày 09/4/2021, bà H và đại diện Công ty OCH là ông Phạm Tiến Thành (theo Giấy ủy quyền số 0804/2021/UQ-TGĐ ngày 08/4/2021 của ông Nguyễn Quang Thành – Tổng Giám đốc, đại diện theo pháp luật của Công ty) có buổi gặp mặt làm việc tại sở Công ty Luật Quốc tế và Cộng sự, số 42 Tôn Thất Tùng, phường Bến Thành, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Tại buổi gặp mặt, bà H có nói với ông Thành rằng bà không giao kết hợp đồng nói trên với Công ty và yêu cầu Công ty OCH cung cấp các tài liệu liên quan. Đại diện của Công ty OCH đã đưa ra các tài liệu sau:
- Hợp đồng góp vốn đầu tư số 16/2012/HĐGV-OCH lập ngày 06/3/2012 giữa Công ty CP D - đại diện là ông Phó Thiên Sơn - Quyền Tổng Giám đốc và một bên Hợp đồng có ghi tên là Hứa Thị Bích H. Nội dung Hợp đồng: Công ty OCH góp vốn đầu tư cùng bà H để mua chứng khoán, số tiền góp vốn là 40.000.000.000 đồng, Công ty OCH sẽ chuyển bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản của bà H vào ngày 07/3/2012. Hợp đồng có chữ ký của bên A là ông Phó Thiên Sơn - Tổng giám đốc Công ty OCH và một chữ ký, không ghi rõ họ tên của bên B mà Công ty OCH cho là chữ ký của bà H.
- Ủy nhiệm chi ngày 03/7/2012 của Công ty OCH với tài khoản ghi nợ là tài khoản Công ty CP KS-DV Đại Dương, tài khoản ghi có số 00000036932700017 tên tài khoản Hứa Thị Bích H, ủy nhiệm chi số tiền 40.000.000.000 đồng, ủy nhiệm chi chỉ có một chữ ký không ghi rõ họ tên và có đóng dấu Công ty OCH.
- Phụ lục hợp đồng góp vốn đầu tư lập ngày 01/7/2012 giữa Công ty CP D - đại diện là ông Hà Văn Thắm, chủ tịch Hội đồng quản trị và bà Hứa Thị Bích H. Phụ lục này có chữ ký, đóng dấu của ông Hà Văn Thắm và một chữ ký mà Công ty OCH cho là chữ ký của bà H.
- Phụ lục 1 hợp đồng góp vốn đầu tư lập ngày 01/01/2013 giữa Công ty CP D - đại diện là ông Phó Thiên Sơn, Tổng Giám đốc và bà Hứa Thị Bích H. Phụ lục này có chữ ký, đóng dấu của ông Phó Thiên Sơn và một chữ ký mà Công ty OCH cho là chữ ký của bà H.
- Phụ lục 2 hợp đồng góp vốn đầu tư lập ngày 06/3/2014 giữa Công ty CP D - đại diện là ông Hà Văn Thắm, chủ tịch Hội đồng quản trị và bà Hứa Thị Bích H. Phụ lục này có chữ ký, đóng dấu của ông Hà Văn Thắm và một chữ ký mà Công ty OCH cho là chữ ký của bà H.
Các tài liệu trên đều là bản gốc, có đóng dấu Công ty OCH trên các chữ ký của người đại diện Công ty.
Sau khi xem xét các tài liệu trên, bà H khẳng định với đại diện Công ty OCH rằng bà không hề biết đến việc hợp tác góp vốn cùng Công ty OCH để mua chứng khoán như trình bày trong Hợp đồng góp vốn số 16/2012/HĐGV-OCH, chữ ký trong Hợp đồng góp vốn và các phụ lục hợp đồng không phải do bà ký. Số tài khoản 00000036932700017 mang tên Hứa Thị Bích H tại Ngân hàng TMCP Đại Dương (nay là Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại Dương) ghi trên Ủy nhiệm chi ngay 03/7/2012 của Công ty OCH không phải số tài khoản của bà H. Bà H không nhận khoản tiền góp vốn 40.000.000.000 đồng từ Công ty OCH dù là tiền mặt hay chuyển khoản. Vì vậy, bà H không chấp nhận đề nghị thanh toán của Công ty OCH, bà yêu cầu phía Công ty chủ động làm rõ vấn đề tài chính kế toán của mình, không tiếp tục yêu cầu bà thanh toán khoản tiền nêu trên, (có Biên bản làm việc đính kèm)
Tuy nhiên, Công ty OCH tiếp tục gửi cho bà H: đơn Đề nghị thanh toán đề ngày 10/01/2023, căn cứ vào Hợp đồng góp vốn đầu tư số 16/2012/HĐGV-OCH ngày 06/3/2012, các phụ lục kèm theo và ủy nhiệm chi ngày 03/7/2012 để yêu cầu bà H thanh toán tiền góp vốn theo hợp đồng là 40.000.000.000 đồng, tiền chi phí sử dụng vốn tính đến ngày 31/12/2022 là 50.933.622.528 đồng, tổng số tiền bà phải thanh toán cho Công ty OCH là 90.933.622.528 đồng; và Biên bản đối chiếu công nợ đề ngày 31/12/2022 xác nhận công nợ tính đến ngày 31/12/2022 nhưng chỉ có chữ ký, đóng dấu của Tổng giám đốc Công ty OCH, không có chữ ký của bà H.
Nhận thấy, dù bà H đã nhiều lần gửi văn bản phản hồi, thậm chí gặp mặt trực tiếp người đại diện của Công ty OCH để làm rõ việc bà không giao dịch góp vốn gì với Công ty OCH, không ký tên vào Hợp đồng góp vốn hay các phụ lục hợp đồng mà phía Công ty OCH cung cấp, cũng không nhận bất kì một khoản tiền nào từ Công ty OCH nhưng phía. Công ty OCH tiếp tục dựa vào những tài liệu nêu trên và vẫn cho rằng đó là chữ ký của bà H để yêu cầu bà thanh toán nợ. Việc đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, uy tín của bà H.
Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H, bà H đề nghị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xem xét, giải quyết yêu cầu như sau:
- Tuyên Hợp đồng góp vốn đầu tư số 16/2012/HĐGV-OCH ngày 06/3/2012 giữa Công ty Cổ phần D (nay là Công ty cổ phần One Capital Hospitality) và bà Hứa Thị Bích H, các phụ lục họp đồng ngày 01/7/2012, ngày 01/01/2013, ngày 06/3/2014 kèm theo Hợp đồng số 16/2012/HĐGV-OCH và ủy nhiệm chi ngày 03/7/2012 của Công ty Cổ phần D là vô hiệu do giả tạo.
- Yêu cầu Công ty cổ phần O(Tên cũ là Công ty Cổ phần D) chấm dứt hành vi gửi thông báo, gọi điện và các hành vi khác đòi tiền theo các Hợp đồng nêu trên đối với bà.
* Bị đơn, trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn như sau:
Công ty cổ phần Olà pháp nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của Công ty Cổ phần D. Trên cơ sở các hồ sơ, sổ sách hiện có của Công ty OCH, có thể hiện chứng từ ủy nhiệm chi ngày 03/7/2012 đã ghi nhận, Công ty OCH đã chuyển số tiền 40.000.000.000 đồng vào số tài khoản 00000036932700017 mở tại Ngân hàng TMCP Đại Dương - Chủ tài khoản mang tên Hứa Thị Bích H.
Căn cứ chứng từ nêu trên, chúng tôi đã phát hành các công văn đề nghị thanh toán gửi bà H yêu cầu bà thanh toán cho Công ty số tiền 40.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà H cho rằng chữ ký trên các chứng từ, văn bản đều không phải của bà. Nay, bà H khởi kiện chúng tôi tại Tòa án, chúng tôi đề nghị bà H đưa ra các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà. .
Đề nghị Tòa án giành quyền khởi kiện cho Bị đơn bằng một vụ án khác để đòi lại số tiền theo Hợp đồng góp vốn và các phụ lục khi có yêu cầu.
Bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Tại phiên toà:
- Nguyên đơn người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như nêu trên. Yêu cầu Toà án tuyên bố các giao dịch sau đây là vô hiệu do giả tạo:
- Hợp đồng góp vốn đầu tư số 16/2012/HĐGV-OCH lập ngày 06/3/2012; Phụ lục hợp đồng góp vốn đầu tư lập ngày 01/7/2012; Phụ lục 1 hợp đồng góp vốn đầu tư lập ngày 01/01/2013; Phụ lục 2 hợp đồng góp vốn đầu tư lập ngày 06/3/2014; Ủy nhiệm chi ngày 03/7/2012 của Công ty OCH với tài khoản ghi nợ là tài khoản Công ty CP KS-DV Đại Dương, tài khoản ghi có số 00000036932700017 tên tài khoản Hứa Thị Bích H, ủy nhiệm chi số tiền 40.000.000.000 đồng.
- Yêu cầu Công ty cổ phần O(Tên cũ là Công ty Cổ phần D) chấm dứt hành vi gửi thông báo, gọi điện và các hành vi khác đòi tiền theo các Hợp đồng nêu trên đối với bà Hứa Thị Bích H.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm:
- Về tố tụng:
Toà án thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, Toà án có vi phạm về thời gian xử lý đơn khởi kiện và vi phạm thời hạn giải quyết vụ án, quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa dân sự sơ thẩm tại chương 14 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
- Đến thời điểm xét xử bị đơn là Công ty OCH không cung cấp được Hợp đồng gốc có chữ ký, con dấu của Hợp đồng góp vốn đầu tư số 16/2012/HĐGV-OCH lập ngày 06/3/2012 cùng các phụ lục Hợp đồng giữa Công ty CP D và bà Hứa Thị Bích H theo yêu cầu của Tòa án.
- Căn cứ kết quả trả lời của Cục xuất nhập cảnh – Bộ công an xác định thời điểm ký kết hợp đồng với công ty OCH bà H không có mặt ở Việt Nam.
- Căn cứ vào Kết luận giám định số: 227/KLKTHS9P11 ngày 06/8/2024 của Phòng Giám định kỹ thuật hình sự - Bộ Quốc phòng xác định chữ viết trên các ủy nhiệm chi không phải chữ ký của bà H.
Do đó, có đủ cơ sở xác định: Hợp đồng góp vốn đầu tư số 16/2012/HĐGV-OCH ngày 06/03/2012 giữa Công ty CP D – đại diện là ông Phó Thiên Sơn, Quyền tổng giám đốc và bà Hứa Thị Bích H. Ủy nhiệm chi ngày 03/7/2012 của công ty OCH và các phụ lục liên quan không phải do bà Hứa Thị Bích H tham gia ký kết.
Đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ Điều 122, 124 của Bộ luật dân sự.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà;
[1]. Về tố tụng:
Bà Hứa Thị Bích H khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số 16/2012/HĐGV-OCH lập ngày 06/3/2012 giữa Bà Hứa Hứa Thị Bích H với Công ty Cổ phần khách sạn Đại dương (Nay là Công ty Cổ phần One Capital Hospitality) cùng các phụ lục Hợp đồng có liên quan giả tạo. Trụ sở chính của bị đơn theo đăng ký kinh doanh và thực tế tại Tầng 8, Tòa nhà Leadvisors Tower Số 643 Phạm Văn Đồng, phường C1, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Những người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty Cổ phần O.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: bà Hứa Thị Bích H yêu cầu Toà án tuyên bố các giao dịch sau đây vô hiệu do giả tạo: Hợp đồng góp vốn đầu tư số 16/2012/HĐGV-OCH lập ngày 06/3/2012 giữa bà Hứa Thị Bích H với Công ty Cổ phần D (Nay là Công ty Cổ phần O) cùng các phụ lục Hợp đồng có liên quan; Ủy nhiệm chi ngày 03/7/2012 của Công ty OCH với tài khoản ghi nợ là tài khoản Công ty Cổ phần D, tài khoản ghi có số 00000036932700017 tên tài khoản Hứa Thị Bích H, ủy nhiệm chỉ số tiền 40.000.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Quá trình giải quyết vụ án, nhiều lần Toà án có Quyết định yêu cầu bị đơn là Công ty Cổ phần Ogiao nộp Bản gốc Hợp đồng góp vốn đầu tư số 16/2012/HĐGV-OCH ngày 06/3/2012 và ủy nhiệm chi ngày 03/7/2012; Bản gốc Phụ lục hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 01/7/2012; Bản gốc Phụ lục 1 hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 01/01/2013; Bản gốc Phụ lục 2 hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 06/3/2014.
Bị đơn là Công ty OCH có văn bản giải trình, trả lời Toà án vào ngày 25/7/2023 với nội dung: Do thời gian đã lâu (hơn 11 năm), Công ty do những Cổ đông mới tiếp quản nên chưa thể tìm thấy các tài liệu bản gốc (Bút lục 134).
Để làm rõ bản chất của các giao dịch nêu trên, căn cứ vào lời khai, Hộ chiếu mà nguyên đơn Hứa Thị Bích H cung cấp, Toà án thu thập tài liệu, chứng cứ về việc Xuất cảnh, nhập cảnh của bà Hứa Thị Bích H trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2015. Theo tài liệu chứng cứ do Cục quản lý Xuất nhập cảnh – Bộ Công an cung cấp, thể hiện: Từ ngày 26/5/2012 đến ngày 17/10/2012 bà Hứa Thị Bích H xuất cảnh ra ngước ngoài, không có mặt tại Việt Nam. Đối chiếu với Phụ lục hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 01/7/2012 và các ủy nhiệm chi ngày (Tài liệu gốc do Ngân Hàng cung cấp), có cơ sở kết luận bà Hứa Thị Bích H không thực hiện các giao dịch này.
Căn cứ vào Kết luận Giám định số: 227/KL-GĐKTHS (P11) ngày 06/8/2024 của Phòng Giám định kỹ thuật hình sự - Bộ Quốc phòng, kết luận: “Cụm chữ viết ghi họ tên “Hứa Thị Bích H” cần giám định trên các tài liệu ký hiệu từ A1 đến A5 với chữ viết mẫu so sánh ghi của bà Hứa Thị Bích H trên các tài liệu ký hiệu từ M1 đến M9 là không phải do cùng một người viết ra”.
Tổng hợp các tài liệu, chứng cứ, lời khai của các đương sự, Hội đồng xét xử, có đủ căn cứ kết luận: Bà Hứa Thị Bích H không thực hiện các giao dịch: Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 16/2012/HĐGV-OCH ngày 06/3/2012; Phụ lục hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 01/7/2012; Phụ lục 1 hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 01/01/2013; Phụ lục 2 hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 06/3/2014 với Công ty Cổ phần khách sạn - Dịch vụ Đại Dương; “Uỷ nhiệm chỉ” ngày 03/7/2012 và Bà Hứa Thị Bích H không thực hiện giao dịch trong các Uỷ nhiệm chi ở các thời điểm khác được Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại Dương (OceanBank) lưu giữ.
Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Hứa Thị Bích H đối với Công ty Cổ phần O.
[2.2]. Do bà Hứa Thị Bích H không thực hiện các giao dịch là Hợp đồng số: 16/2012/HĐGV-OCH ngày 06/3/2012; Phụ lục hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 01/7/2012; Phụ lục 1 hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 01/01/2013; Phụ lục 2 hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 06/3/2014 cùng các “Uỷ nhiệm chỉ” như phân tích ở mục [2.1] nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Hứa Thị Bích H buộc Công ty Cổ phần Ochấm dứt các hành vi đòi tiền góp vốn đối với bà H theo các Hợp đồng và phụ lục nêu trên.
3. Về án phí:
Đây là vụ án dân sự không có giá ngạch, nên án phí của vụ án là 300.000 đồng cần buộc bị đơn có nghĩa vụ phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Điều 122,124 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Hứa Thị Bích H đối với bị đơn là Công ty Cổ phần O.
2. Tuyên bố:
- Không có Hợp đồng góp vốn số: 16/2012/HĐGV- OCH ngày 06/3/2012 giữa bà Hứa Thị Bích H với Công ty Cổ phần D (Nay là Công ty Cổ phần One Capital Hospitality). Bà Hứa Thị Bích H không thực hiện giao dịch “Uỷ nhiệm chỉ” ngày 03/7/2012 và các Uỷ nhiệm chi ở các thời điểm khác được Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại Dương lưu giữ;
- Không có các Phụ lục hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 01/7/2012; Phụ lục 1 hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 01/01/2013; Phụ lục 2 hợp đồng góp vốn đầu tư đề ngày 06/3/2014 giữa bà Hứa Thị Bích H với Công ty Cổ phần D (Nay là Công ty Cổ phần One Capital Hospitality).
Bà Hứa Thị Bích H không thực hiện các giao dịch sau:
- - Ủy nhiệm chi ngày 23/04/2012 hiện đang lưu giữ tại Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại Dương (OceanBank);
- - Ủy nhiệm chi ngày 17/04/2012 hiện đang lưu giữ tại Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại Dương (OceanBank);
- - Ủy nhiệm chi ngày 03/7/2012;
- - Ủy nhiệm chi ngày 12/04/2012 hiện đang lưu giữ tại Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại Dương (OceanBank);
- - Ủy nhiệm chi ngày 06/04/2012 hiện đang lưu giữ tại Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại Dương (OceanBank);
- - Ủy nhiệm chi ngày 14/03/2012 hiện đang lưu giữ tại Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại Dương (OceanBank);
* Buộc Công ty Cổ phần O(Tên gọi cũ là Công ty Cổ phần D) chấm dứt thực hiện các hành vi đòi các khoản tiền liên quan đến Hợp đồng số: 16/2012/HĐGV-OCH ngày 06/3/2012 cùng các phụ lục Hợp đồng và các Uỷ nhiệm chi nêu trên đối với bà Hứa Thị Bích H.
3. Về án phí:
Buộc Công ty Cổ phần Ophải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm. Trả lại bà Hứa Thị Bích H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: AA/2020/ 0043880 ngày 19/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên bản án.
Bị đơn là Công ty Cổ phần Ovắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thế Vinh |
Bản án số 90/2024/DSST ngày 10/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng góp vốn
- Số bản án: 90/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp vốn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN
