|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST
Ngày 10 - 7 - 2024
V/v Chia tai sản chung
của vợ chồng sau khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhẫn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tăng Thị Bạch Vân
Ông Nguyễn Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Trang, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc, Kiểm sát viên
Vào các ngày 05 và ngày 10/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2024 về “Chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2024/QĐXX-ST, ngày 19/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Ngọc H, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số G, đường L, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ tạm trú: ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Bà Trương Thị Hồng P, sinh năm 1989. Địa chỉ: E, phườn A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ tạm trú: ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của bà P: Ông Phan Phương T, sinh năm 1986. Địa chỉ: số C, Khu V, đường N (nối dài), phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP S (S1) – Chi nhánh C. Địa chỉ: 213, 215, B đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S: Bà Trần Mỹ B – Chức vụ: chuyên viên Tư vấn Dịch vụ Tài chính cá nhân (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 26/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Vũ Ngọc H trình bày:
Vào năm 2012, ông H và bà P quen biết nhau và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường A cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/10/2012. Quá trình chung sống, hai người có một người con chung tên Vũ Khải M sinh ngày 27/12/2013. Sau khi kết hôn tôi và Bà P có một thời gian dài chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến đầu năm 2021 hai người bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn do tỉnh tình không hợp nhau, thường xuyên cải nhau. Từ đó, hai người ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay.
Vào tháng 11/2023, tôi và bà P có đến Tòa Án huyện Kế Sách thỏa thuận thuận tình ly hôn và nuôi con chung.
Thời gian chung sống, tôi và bà P có tài sản gồm:
- Một Sổ tiết kiệm với số tiền gửi tiết kiệm là 3.000.000.000 đồng tại Ngân hàng S – Chi nhánh C (Địa chỉ: Đường L, Phường A, Quận N, Thành Phố Cần Thơ), do tôi và bà P cùng đứng tên trong Số tiết kiệm.
- Một Phần đất cùng một Căn nhà gắn liền trên đất tại thửa số 36, tờ bản đồ số 82, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, đất do bà P đang đứng tên giấy chứng nhận quyền dụng đất. Giá trị đất tạm tính là 700.000.000 đồng. Giá trị nhà tạm tính là 700.000.000 đồng. (Tổng tài sản nhà và đất là 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm trăm triệu đồng)
Tất cả tài sản trên là do gia đình cha mẹ tôi cho tôi, có chuyển khoản qua tài khoản Ngân Hàng, không phải là tài sản do ông và bà P1 tạo ra, không phải tài sản được Thừa Kế chung và không phải là tài sản tặng cho chung Trong thời kỳ hôn nhân, nên ông cho chị P1 cùng đứng tên với ông, nên không có thỏa thuận là tài sản chung.
Nay nhận thấy sau khi ly hôn ông và bà P không thỏa thuận Tài sản trên được nên ông yêu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Về tài sản chung: Một Số tiết kiệm với số tiền gửi tiết kiệm 3.000.000.000 đồng (tôi đồng ý chia cho chị P 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng).
- Một Phần đất cùng một Căn nhà gắn liền trên đất tại thửa số 36, tờ bản đồ số 82, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăn (tổng tài sản là tạm tỉnh theo giá thực tế là 1.400.000.000 đồng; ông đồng ý cho chị P lấy căn nhà nhưng phải gởi trả tiền cho ông là 900.000.000 đồn (chín trăm triệu đồng).
- Về nợ chung: Không có, nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo đơn phản tố ngày 10/4/2024, của bị đơn Trương Thị Hồng P, và ý kiến của (người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Phương là ông Phan Phương T): Bà P không thống nhất theo yêu cầu của nguyên đơn ông Vũ Ngọc H. Đối với số tiền 3.000.000.000 đồng đang gửi Ngân hàng TMCP S (S1) – Chi nhánh C, tôi yêu cầu chia mỗi người 1.500.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày Ngân hàng tạm khóa ngày 07/11/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (theo lãi suất Ngân hàng). Nguồn gốc số tiền trên là do ông Vũ Ngọc H1 là cha của ông H tặng cho vợ chồng ông H theo Hợp đồng tặng cho ngày 27/02/2021. Trong quá trình tặng cho, bà P và ông H không có nhu cầu sử dụng nên bán lại cho ông H1 trên danh nghĩa hợp đồng tặng cho từ ông H qua ông H1 ngày 08/11/2021 (theo hợp đồng tặng cho), hình thức thanh toán là ông H1 chuyển khoảng cho vợ chồng ông H, nên số tài khoản mang tên ông H, sau đó ông H và bà P đi rút tiền và cùng ngày đi gửi Ngân hàng và làm sổ tiết kiệm ông H và bà P đứng tên đồng sở hữu. Khi nhận lãi hai vợ chồng cùng đi và cùng ký tên để nhận số tiền lãi.
Đối với phần nhà và đất, tôi thống nhất theo kết quả định giá tài sản ngày 16/4/2024, cụ thể số tiền định giá là 768.442.262 đồng, thực tế bà P xây dựng 400.000.000 đồng, nên bà P yêu cầu chia 50% giá trị số tiền trên theo kết quả định giá tài sản. Vì bà P đang quản lý căn nhà và đất, nguồn gốc đất của bà Trương Thị Ơ là chị ruột của bà P chuyển nhượng cho bà P thời điểm ngày 31/5/2023 giá 100.000.000 đồng. Hơn nữa, căn nhà xây dựng là do nguồn tiền từ mẹ của bà P cho, nên bà P được giữ lại căn nhà và đất, bà P sẽ trả lại giá trị cho ông H. Bà P yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tại thửa số 36, tờ bản đồ số 82, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ GCN: VP 04376 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S cấp ngày 06/9/2023 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà P.
- Ý kiến người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S: Bà Trần Mỹ B – Chức vụ: chuyên viên Tư vấn Dịch vụ Tài chính cá nhân: Ông H và bà P có gửi Ngân hàng TMCP S (S1) – Chi nhánh C số tiền 3.000.000.000 đồng và hiện nay Ngân hàng đã tạm khóa ngày 07/11/2023 đến 07/11/2024, do ông H và bà P có xảy ra tranh chấp và ông H có đơn yêu cầu Ngân hàng tạm khóa số tiền trên. Tòa án giải quyết như thế nào, thì Ngân hàng thống nhất theo quyết định của Tòa án, nên không có ý kiến gì thêm.
-Tại phiên tòa, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Trương Thị Hồng P trình bày ý kiến: Tài sản chung của vợ chồng ông H và bà P sau khi ly hôn là số tiền 3.000.000.000 đồng được gửi vào ngày 07/5/2021, thửa đất số 36 được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S cấp cho bà Trương Thị Hồng P vào ngày 06/9/2023 (nguồn gốc sử dụng: nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSD đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất), đến ngày 18/12/2023, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách ra quyết định thuận tình ly hôn giữa các đương sự. Như vậy các tài sản nêu trên được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên và được xác định là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông H thì cho rằng tài sản có được là do cha mẹ ông tặng riêng cho ông, ông không có thỏa thuận là tài sản chung. Tuy nhiên, qua hợp đồng tặng cho QSD đất vào ngày 27/02/2021, thể hiện ông Vũ Đức H2 (là cha ruột ông H) có tặng cho vợ chồng ông H, bà P thửa đất số 703, tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại phường A, quận G, TP . (sau đó ông H, bà P lấy thửa đất này tặng ngược lại cho ông Vũ Đức H2 ngày 08/11/2021), thay vào đó thì ông H2 có chuyển tiền vào tài khoản của ông H 3.000.000.000 đồng, đến khi gửi tiết kiệm thì cả ông H, bà P đều đứng tên chủ sở hữu. Do đó, qua trình bày và phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu phản tố của bị đơn chia đều theo tỷ lệ ½ . Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tại thửa số 36, tờ bản đồ số 82, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ GCN: VP 04376 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S cấp ngày 06/9/2023, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà P.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 165, Điều 228 Bộ luật TTDS năm 2015;
- Các Điều 33, 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể ông H, bà P mỗi người được chia ½ số tiền 4.443.230.662 đồng, tương ứng mỗi người được nhận là 2.221.615.331 đồng. Không chấp nhận yêu cầu chia theo tỷ lệ 6/4 (tương ứng ông H 60%, bà Phương 4) theo yêu cầu của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trương Thị Hồng P yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn chia theo tỷ lệ ½ . Cụ thể mỗi người nhận giá trị là 2.221.615.331 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy:
*Về tố tụng:
- Tại phiên tòa, bị đơn bà Trương Thị Hồng P thay đổi một phần yêu cầu phản tố, cụ thể không yêu cầu tính lãi suất đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền sổ tiết kiệm 3.000.000.000 đồng đang gửi tại Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C. Xét thấy, sự thay đổi một phần yêu cầu phản tố của bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
*Về nội dung vụ án:
- Vào năm 2023, ông Vũ Ngọc H và bà Trương Thị Hồng P đã thuận tình ly hôn theo quyết định số 244/2023/QĐCNTTLH ngày 18/12/2023 của TAND huyện Kế Sách, theo nội dung quyết định đã giải quyết về ly hôn và nuôi con, về tài sản chung, nợ chung các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Quá trình chung sống các bên có tài sản gồm 01 sổ tiết kiệm số tiền 3.000.000.000 đồng và phần đất cùng căn nhà trên thửa số 36 nêu trên, về số tiền tiết kiệm cũng như căn nhà, thửa đất thì các bên đều thống nhất thừa nhận là tài sản có trong thời kỳ hôn nhân và đều đồng ý chia. Sự thừa nhận của các đương sự là thuộc tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật TTDS năm 2015.
- Về số tiền tiết kiệm 3.000.000.000 đồng, các bên đều đồng ý chia đôi. Tuy nhiên, đối với các tài sản nêu trên, nguyên đơn và bị đơn không thống nhất được cách phân chia theo yêu cầu của các bên. Ông H cho rằng, các tài sản nêu trên là do cha mẹ ông tặng cho ông chứ không phải là tài sản chung của ông và bà P nhưng ông vẫn đồng ý chia theo tỉ lệ 4/6 (tức là ông 6 phần, bà P 4 phần). Còn bà P thừa nhận số tiền tiết kiệm 3.000.000.000 đồng là tiền của cha mẹ ông H tặng cho chung vợ chồng bà trong thời kỳ hôn nhân, còn thửa đất số 36, tờ bản đồ số 82, diện tích 562,6m² là đất do chị bà tên Trương Thị Ngọc Ơ1 tặng cho bà, còn tiền xây nhà căn nhà là tiền chung của vợ chồng, bà đồng ý chia cho ông H một nửa giá trị.
- Xét thấy, số tiền 3.000.000.000 đồng được gửi vào ngày 07/5/2021, thửa đất số 36 được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S cấp cho bà Trương Thị Hồng P vào ngày 06/9/2023 (nguồn gốc sử dụng: nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSD đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất), đến ngày 18/12/2023, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách ra quyết định thuận tình ly hôn giữa các đương sự. Như vậy các tài sản nêu trên được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên được xác định là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông H thì cho rằng tài sản có được là do cha mẹ ông tặng riêng cho ông, ông không có thỏa thuận là tài sản chung. Tuy nhiên, qua hợp đồng tặng cho QSD đất vào ngày 27/02/2021, thể hiện ông Vũ Đức H2 (là cha ruột ông H) có tặng cho vợ chồng ông H, bà P thửa đất số 703, tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại phường A, quận G, TP . (sau đó ông H, bà P lấy thửa đất này tặng ngược lại cho ông Vũ Đức H2 ngày 08/11/2021), thay vào đó thì ông H2 có chuyển tiền vào tài khoản của ông H 3.000.000.000 đồng, đến khi gửi tiết kiệm thì cả ông H, bà P đều đứng tên chủ sở hữu. Như vậy, nguồn tiền tiết kiệm là tài sản do cha mẹ ông H tặng chung cho ông H và bà P chứ không phải tặng cho riêng cho cá nhân ông H; Còn đối với căn nhà và thửa đất số 36 tờ bản đồ số 82, diện tích 562,6m², tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, ông H và bà P không chứng minh được nguồn tiền để mua đất và xây dựng căn nhà là tài sản riêng của ông bà nên thửa đất và căn nhà được xác định là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông H và bà P theo quy định tại khoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng”.
- Mặt khác, theo quy định của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tại khoản 4 Điều 7 Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì không quy định cụ thể tài sản được cha mẹ mỗi bên tặng cho chung thì được chia mỗi bên nhiều hơn hoặc ít hơn. Trừ trường hợp tài sản ông H được tặng cho riêng sau đó ông H nhập vào khối tài sản chung thì mới được xem xét đến công sức đóng góp để xác định tỉ lệ tài sản được chia nhiều hơn. Do đó về nguyên tắc thì tài sản chung của ông H và bà P cần phải chia đôi và được xác định theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm, cụ thể: Theo biên bản xem xét thẩm định, định giá tài sản của Tòa án ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện K và kết quả thẩm định giá của Công ty cổ phần T1 ngày 22/5/2024, giá trị nhà và đất: 1.443.230.662 đồng (trong đó: giá trị căn nhà: 743.356.262 đồng + giá trị đất: 699.874.400 đồng), tiền tiết kiệm là 3.000.000.000 đồng.
- Như vậy tổng giá trị tài sản chung là 4.443.230.662 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Ngọc H có cơ sở chấp nhận một phần, cụ thể chấp nhận yêu cầu chia theo tỷ lệ ½ tài sản nêu trên. Không chấp nhận chia theo tỷ lệ 6/4 (tương ứng nguyên đơn 60%, bị đơn 40%) theo yêu cầu của nguyên đơn.
- Xét thấy, đối với yêu cầu phản tố của bà Trương Thị Hồng P, yêu cầu chia đôi số tiền tiết kiệm 3.000.000.000 đồng, căn nhà và thửa đất là tài sản chung của bà P, ông H nên được chia đôi, do đó yêu cầu phản tố của bà P là có cơ sở chấp nhận. Cụ thể như sau:
- - Số tiền tiết kiệm: 3.000.000.000 đồng, chia theo tỷ lệ ½ ông H được nhận 1.500.000.000 đồng, bà P được nhận 1.500.000.000 đồng.
- Phần đất và căn nhà trên đất. Xét thấy, kể từ khi ông Vũ Ngọc H và bà Trương Thị Hồng P đã được Tòa án huyện K giải quyết ly hôn, thì bà P hiện đang quản lý và sử dụng phần đất và căn nhà này, nên bà P được nhận căn nhà và đất, đồng thời, bà P phải có nghĩa vụ trả giá trị cho ông H. Cụ thể:
- Phần đất và căn nhà trên đất theo kết quả định giá có giá trị 1.443.230.662 đồng, chia theo tỷ lệ ½, bà P trả lại giá trị tương đương ½ cho ông H là 721.615.331 đồng. Nên bà P được toàn quyền sở hữu sử dụng định đoạt đất và căn nhà trên thửa đất nêu trên.
- Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Chi phí thẩm định và định giá tài sản là 21.950.000 đồng, ông H và bà P mỗi người phải chịu 50% chi phí.
[10] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ theo điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Nguyên đơn ông Vũ Ngọc H phải chịu án phí đối với phần tài sản được chia là 76.433.000 đồng (tính tròn số), được trừ số tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp là 38.000.000 đồng theo biên lai thu số 0003628 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Ông H còn phải nộp thêm số tiền 38.433.000 đồng.
- - Bị đơn bà Trương Thị Hồng P phải chịu án phí đối với phần tài sản được chia là 76.433.000 đồng (tính tròn số), được trừ số tiền tạm ứng án phí phản tố bà P đã nộp là 32.250.000 đồng theo biên lai thu số 0003704 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Bà P còn phải nộp thêm số tiền 44.183.000 đồng.
[11] Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân s
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 165, Điều 228; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 33, 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- - Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn, cụ thể: Nguyên đơn, bị đơn mỗi người được nhận ½ trên tổng số tiền là 4.443.230.662 đồng, tương ứng mỗi người là 2.221.615.331 đồng.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn chia theo tỷ lệ 4/6 (Nguyên đơn 60%, bị đơn 40%), tương ứng số tiền 444.323.066 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, về việc yêu cầu chia ½ tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn, Cụ thể: Nguyên đơn, bị đơn mỗi người được nhận ½ trên tổng số tiền là 4.443.230.662 đồng, tương ứng mỗi người là 2.221.615.331 đồng.
-Phần đất và căn nhà trên đất tại thửa số 36, tờ bản đồ số 82, diện tích 562,6m², tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, theo kết quả định giá tài sản có giá trị 1.443.230.662 đồng, bà P được nhận phần đất và căn nhà trên đất, bà P có nghĩa vụ trả lại giá trị tương ứng ½ cho ông H số tiền là 721.615.331 đồng. Bà P được toàn quyền sở hữu sử dụng định đoạt thửa đất và căn nhà trên đất nêu trên. (Kèm theo sơ đồ).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Số tiền tiết kiệm: 3.000.000.000 đồng, chia theo tỷ lệ ½ ông H được nhận 1.500.000.000 đồng, bà P được nhận 1.500.000.000 đồng.
Buộc Ngân hàng TMCP S (S1) – Chi nhánh C, có nghĩa vụ chi trả số tiền tiết kiệm sổ tiết kiệm số SB 6044681 ngày 09/5/2023 do Ngân hàng TMCP S (S1) phát hành như sau:
- - Ông Vũ Ngọc H được nhận số tiền vốn gốc 1.500.000.000 đồng.
- - Bà Trương Thị Hồng P được nhận số tiền vốn gốc 1.500.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- · Nguyên đơn ông Vũ Ngọc H phải chịu án phí đối với phần tài sản được chia là 76.433.000 đồng (tính tròn số), được trừ số tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp là 38.000.000 đồng theo biên lai thu số 0003628 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Ông H còn phải nộp thêm số tiền 38.433.000 đồng.
- · Bị đơn bà Trương Thị Hồng P phải chịu án phí đối với phần tài sản được chia là 76.433.000 đồng (tính tròn số), được trừ số tiền tạm ứng án phí phản tố bà P đã nộp là 32.250.000 đồng theo biên lai thu số 0003704 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Bà P còn phải nộp thêm số tiền 44.183.000 đồng.
- Về chi phí thẩm định định giá: 21.950.000 đồng, nguyên đơn và bị đơn mỗi người phải chịu 10.975.000 đồng. Do số tiền trên ông H đã nộp tạm ứng trước để thực hiện cho việc định giá và đã chi phí xong, nên bà P phải có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền 10.957.000 đồng.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Nhẫn |
Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn
- Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
