Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HS - ST

Ngày 10 tháng 5 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân Bà Chi Thị Tuyết
Ông Nguyễn Quang Đạt
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Ngô Xuân Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2024/HSST ngày 16/4/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST – HS ngày 22/4/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức T, sinh năm 1994; Giới tính: Nam; HKTT: Kim Đậu, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở trước khi bị bắt: Số E ngách D ngõ A T, phường T, quận Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Nguyễn Đức H và bà Nguyễn Thị M; Có vợ là Nguyễn Thị D đã ly hôn và 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày: 24/12/2023 đến ngày 29/12/2023 huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Đình H1, sinh năm 1999; trú tại: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 23/12/2023, tổ công tác đội CSĐTTP về ma túy Công an quận T làm nhiệm vụ phát hiện Nguyễn Đức T và Phạm Đình H1 đi bộ vào sảnh chung cư K N, thuộc phường T, quận T, Tp ., có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Nguyễn Đức T khai nhận đang mang theo ma túy và tự giác giao nộp 01 vỏ hộp giấy màu nâu có in chữ Foellie, bên trong hộp có 01 túi nilông nhỏ chứa chất bột màu trắng và 01 vỏ hộp giấy màu nâu có in chữ Foellie, bên trong hộp có 01 túi nilông màu cam in chữ CHALI được đóng kín chưa qua sử dụng T cất giấu trong người. T khai nhận đây là ma túy “ke” và ma túy “nước vui” của T mua với mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong tang vật và đưa T cùng H1 về cơ quan Công an để làm rõ.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đức T: 01 (một) hộp giấy màu nâu bên ngoài có chữ Foellie, bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng, kích thước khoảng 2,5cmx2,5cm chứa chất bột màu trắng; 01 (một) hộp giấy màu nâu bên ngoài có chữ Foellie, bên trong có 01 (một) gói nilông màu cam, bên ngoài có chữ CHALI chưa qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone màu xanh đã qua sử dụng, Imei1: 355623120998364, Imei2: 355623120793211, bên trong lắp sim số thuê bao 0987357847.

Thu giữ của Phạm Đình H1: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu kiểu dáng Iphone 12 pro max, màu xanh đã qua sử dụng, số Imeil: 354440890989569; Imei2: 354440890628225, bên trong lắp sim số 0936514265.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức T tại số E ngách D, ngõ A T, phường T, quận Đ, Hà Nội, không phát hiện thu giữ tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 8787/KL-KTHS ngày 31/12/2023 và Bản kết luận giám định số 905/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K Công an T2 kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilông có khối lượng 1,924 gam là ma túy loại Ketamine. Chất bộ màu vàng bên trong 01 gói nilông màu da cam in chữ CHALI có ma túy loại Methamphetamine, ma túy MDMA, ma túy Ketamine, ma túy Nimetazepam có khối lượng 1,855 gam (khối lượng các chất ma túy Methamphetamine, ma túy MDMA, ma túy Nimetazepam lần lượt là 0,519 gam, 0,003 gam và 0,098 gam; lượng Ketamine trong mẫu rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp phân tích nên không xác định được khối lượng chất này trong mẫu gửi giám định).

Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Đức T khai nhận: Vào tối ngày 23/12/2023, T và H1 gặp nhau ngồi uống nước nói chuyện tại quán nước trong phố C. Trong lúc ngồi uống nước, T nảy sinh ý định muốn sử dụng ma túy nên T đã liên hệ với người bán ma túy có tên là Đ theo số điện thoại 0904.831.xxx để đặt mua 01 chỉ ma túy “ke” và 01 gói ma túy “nước vui” và được Đ báo giá là 7.300.000 đồng. Sau đó, T chuyển khoản số tiền 7.300.000 đồng cho Đ vào số tài khoản 121756986 mang tên NGUYEN VIET DUC tại Ngân hàng V (số tài khoản do Đ cung cấp). Sau khi T chuyển khoản cho Đ, T hẹn Đ giao ma túy ở phố C. Một lát sau, T được một người lái xe ôm công nghệ hãng B là Mai Văn T1 đến giao cho T 02 hộp giấy đựng ma túy trên, T nhận và cất vào trong người để sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 20 cùng ngày, T và H1 rủ nhau đi chơi bị a, khi đi bộ đến khu vực trước sảnh chung cư K N thì lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang cùng số ma túy T đang cất giấu.

Đối với người bán ma túy cho T, T khai chỉ biết tên là Đ, T biết qua một người bạn xã hội, chưa gặp Đ lần nào, không biết tên, tuổi và địa chỉ của Đ ở đâu. Qua xác minh từ số điện thoại và số tài khoản do T cung cấp, xác định thông tin người dùng là Nguyễn Việt Đ1, sinh năm 1991, CCCD số: [...], cấp ngày: 24/6/2021 tại Cục C về TTXH; địa chỉ: A+16 B7 TTBV B, phường P, quận Đ, Tp .. Hiện nay, Đ1 không có mặt ở nơi cư trú, gia đình Đ1 không biết Đ1 đi đâu, ở đâu và không liên lạc được. Do vậy, Cơ quan điều tra đã tách phần liên quan đến Nguyễn Việt Đ1 để điều tra làm rõ và xử lý sau.

Đối với Phạm Đình H1, quá trình điều tra xác định H1 không biết và không liên quan gì đến số ma túy của Nguyễn Đức T. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H1.

Đối với Mai Văn T1 là người xe ôm đã giao ma túy đến cho T, tại Cơ quan điều tra, T1 khai nhận bản thân làm nghề xe ôm công nghệ cho hãng B và hàng ngày có nhận đơn hàng qua ứng dụng giao hàng, do hàng ngày nhận nhiều đơn hàng nên không nhớ được đã nhận và giao những đơn hàng nào, không nhớ thông tin về người giao hàng và nhận hàng vào ngày 23/12/2023. T1 cung cấp thông tin về lịch sử thông tin liên lạc và lịch sử đơn hàng nhưng do thời gian đã lâu nên không còn lưu trữ được thông tin trong điện thoại của T1 đến ngày 23/12/2023. T1 khai không quen biết và không có quan hệ gì với Nguyễn Đức T và Nguyễn Việt Đ1, không biết và không liên quan gì đến việc làm của những người này. Xét thấy chưa đủ căn cứ chứng minh anh Mai Văn T1 liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Đức T và Nguyễn Việt Đ1 nên chưa áp dụng hình thức xử lý gì đối với Mai Văn T1.

Đối với những chiếc điện thoại bị thu giữ, Nguyễn Đức T khai là tài sản cá nhân hợp pháp của T dùng để liên lạc hàng ngày, đã được T sử dụng đề liên lạc trao đổi việc mua ma túy và chuyển khoản tiền mua ma túy. Còn H1 khai chiếc điện thoại là tài sản hợp pháp của bản thân, không sử dụng vào việc vi phạm pháp luật. Cơ quan điều tra đề nghị chuyển những chiếc điện thoại trên theo vật chứng vụ án đến cơ quan Thi hành án để xử lý theo quy định.

Về gói ma túy là bột màu vàng thu giữ của T có khối lượng 1,855 gam là hỗn hợp của nhiều loại ma túy được quy định tại 02 điểm khác nhau trong khoản 1 Điều 249, gồm Methamphetamine, MDMA (quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249) và N (quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249). Cơ quan giám định đã xác định được hàm lượng và khối lượng của từng loại chất ma túy trên. Theo nguyên tắc có lợi cho bị can, khối lượng của từng chất ma túy được xác định như sau: Methamphetamine là 0,519 gam, MDMA là 0,003 gam, còn lại được tính cho N là 1,333 gam (chất ma túy khác ở thể rắn).

Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận việc bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 18 tháng đến 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ số ngày tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 29/12/2023. Bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, mặt trước có chữ “Bộ C1; V1: Số: 905/C09(TT2); Kính gửi: cơ quan CSĐT Công an quận T, Tp .; “Mẫu vật hoàn trả lại sau giám định”; trên các mép dán ở mặt sau có chữ ghi họ tên của Giám định viên Hoàng Ngọc M1, Điều tra viên Nguyễn Vũ Đ2 và các hình dấu tròn màu đỏ của V1 - Bộ C1; bên trong có:

  • + 1,035 gam chất bột màu vàng có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA, ma túy loại Ketamine và N (phần còn lại sau khi giám định).
  • + 1,745 gam chất bột màu trắng là ma túy loại Ketamine (phần còn lại sau khi giám định).
  • + Vỏ bao gói.

Tịch thu tiêu huỷ: 02 vỏ hộp giấy màu nâu trên vỏ có in chữ Follie.

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xanh đã cũ, bên trong lắp sim. Số Imeil: 355623120998364. Số Imei2: 355623120793211.

- Trả lại anh H1: 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xanh đã cũ, bên trong lắp sim. Số Imei1: 354440890989569. Số Imei2: 354440890628225.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 23/12/2023, tại sảnh chung cư K N, thuộc phường T, quận T, Tp ., Nguyễn Đức T có hành vi tàng trữ 1,924 gam ma túy loại Ketamine, 0,519 gam ma túy loại Methamphetamine, 0,003 ma túy MDMA và 1,333 gam Nimetazepam với mục đích để sử dụng thì bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại nhiều mặt của ma túy đến sức khỏe và đời sống của con người, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.

[4].Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo lần đầu bị đưa ra truy tố, xét xử để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Tình tiết tăng nặng: không.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Cần tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, mặt trước có chữ “Bộ C1; V1: Số: 905/C09(TT2); Kính gửi: cơ quan CSĐT Công an quận T, Tp .; “Mẫu vật hoàn trả lại sau giám định””; trên các mép dán ở mặt sau có chữ ghi họ tên của Giám định viên Hoàng Ngọc M1, Điều tra viên Nguyễn Vũ Đ2 và các hình dấu tròn màu đỏ của V1 - Bộ C1; bên trong có:

  • + 1,035 gam chất bột màu vàng.
  • + 1,745 gam chất bột màu trắng.
  • + Vỏ bao gói.

- 02 vỏ hộp giấy màu nâu trên vỏ có in chữ Follie không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

- 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone màu xanh đã qua sử dụng. Số Imeil: 355623120998364. Số Imei2: 355623120793211 thu giữ của bị cáo T, bị cáo khai dùng để liên lạc mua ma tuý và chuyển tiền mua ma tuý nên cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số thuê bao 0987357847.

- 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone 12 Pro màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0936514265. Số Imeil: 354440890989569. Số Imei2: 354440890628225 thu của H1, H1 khai dùng để liên lạc cá nhân không liên quan đến hành vi tàng trữ ma tuý của T nên trả lại anh H1.

[7] Các vấn đề khác:

Đối với người bán ma túy cho T, T khai chỉ biết tên là Đ1, T biết qua một người bạn xã hội, chưa gặp Đ1 lần nào, không biết tên, tuổi và địa chỉ của Đ1 ở đâu. Qua xác minh từ số điện thoại và số tài khoản do T cung cấp, xác định thông tin người dùng là Nguyễn Việt Đ1, sinh năm 1991, CCCD số: [...], cấp ngày: 24/6/2021 tại Cục C về TTXH; địa chỉ: A+16 B7 TTBV B, phường P, quận Đ, Tp .. Hiện nay, Đ1 không có mặt ở nơi cư trú, gia đình Đ1 không biết Đ1 đi đâu, ở đâu và không liên lạc được. Do vậy, Cơ quan điều tra đã tách phần liên quan đến Nguyễn Việt Đ1 để điều tra làm rõ và xử lý sau, nên Toà không xét.

Đối với Phạm Đình H1, quá trình điều tra xác định H1 không biết và không liên quan gì đến số ma túy của Nguyễn Đức T. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H1, nên Toà không xét.

Đối với Mai Văn T1 là người xe ôm đã giao ma túy đến cho T, tại Cơ quan điều tra, T1 khai nhận bản thân làm nghề xe ôm công nghệ cho hãng B và hàng ngày có nhận đơn hàng qua ứng dụng giao hàng, do hàng ngày nhận nhiều đơn hàng nên không nhớ được đã nhận và giao những đơn hàng nào, không nhớ thông tin về người giao hàng và nhận hàng vào ngày 23/12/2023. T1 cung cấp thông tin về lịch sử thông tin liên lạc và lịch sử đơn hàng nhưng do thời gian đã lâu nên không còn lưu trữ được thông tin trong điện thoại của T1 đến ngày 23/12/2023. T1 khai không quen biết và không có quan hệ gì với Nguyễn Đức T và Nguyễn Việt Đ1, không biết và không liên quan gì đến việc làm của những người này. Xét thấy chưa đủ căn cứ chứng minh anh Mai Văn T1 liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Đức T và Nguyễn Việt Đ1 nên chưa áp dụng hình thức xử lý gì đối với Mai Văn T1, nên Toà không xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[9].Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ số ngày tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 29/12/2023.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy tang vật vụ án gồm: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, mặt trước có chữ “Bộ C1; V1: Số: 905/C09(TT2); Kính gửi: cơ quan CSĐT Công an quận T, Tp .; “Mẫu vật hoàn trả lại sau giám định””; trên các mép dán ở mặt sau có chữ ghi họ tên của Giám định viên Hoàng Ngọc M1, Điều tra viên Nguyễn Vũ Đ2 và các hình dấu tròn màu đỏ của V1 - Bộ C1; bên trong có:

  • + 1,035 gam chất bột màu vàng.
  • + 1,745 gam chất bột màu trắng.
  • + Vỏ bao gói.

Tịch thu tiêu hủy tang vật vụ án gồm: 02 vỏ hộp giấy màu nâu trên vỏ có in chữ Follie.

- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone màu xanh đã qua sử dụng. Số Imeil: 355623120998364. Số Imei2: 355623120793211.

Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số thuê bao 0987357847.

- Trả lại anh Phạm Đình H1: 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone 12 Pro màu xanh đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0936514265. Số Imeil: 354440890989569. Số Imei2: 354440890628225.

Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/5/2024.

Án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng: - Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.

Bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh H1 được quyền kháng cáo bản án liên quan đến anh H1 trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - Công an quận Thanh Xuân;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS - ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 90/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger