Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 90/2024/HS-ST

Ngày: 09-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thanh Nga
  2. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt

Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227A/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn H; Tên gọi khác: Lê Xuân H1, Phạm Văn Đ, T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/9/1969 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký thường trú: 3 D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: 3 D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Phụ buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông Nguyễn Văn Đ1 (chết) và bà Lê Thị N (chết); Có vợ tên Phạm Thị L (chết) và 02 người con sinh năm 1989 và 1992; Tiền án: Ngày 25/8/1995 bị Tòa án nhân dân Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/1996, chưa thi hành khoản nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; Tiền sự: Không có;

Nhân thân:

- Ngày 07/10/1985 bị Ủy ban nhân dân Quận 10 Thành phố H quyết định cưỡng bức lao động tập trung 12 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Qua xác minh Công an Q hiện không còn lưu trữ hồ sơ.

- Ngày 03/5/1986 bị Tòa án nhân dân Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/4/1988, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 6/1986.

- Ngày 26/5/1988 bị Ủy ban nhân dân Quận 4 Thành phố H quyết định cưỡng bức lao động 18 tháng về hành vi “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 05/01/1990.

- Ngày 10/6/1994 bị Công an Q1 bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”. Qua xác minh Công an Q1 hiện không còn lưu trữ hồ sơ.

- Ngày 14/01/1999 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 13 năm tù về các tội “Cướp tài sản của công dân” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. H1 kháng cáo nhưng sau đó đã rút kháng cáo, ngày 23/9/1999 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên y án sơ thẩm. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2006. Ngày 20/01/2011, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4 đã quyết định đình chỉ thi hành án 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối với phần bồi thường các bên đương sự chưa có đơn yêu cầu thi hành án nên chưa thi hành.

- Ngày 30/8/2011 bị Ủy ban nhân dân Quận 8 Thành phố H quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong quyết định ngày 05/8/2013.

- Ngày 07/10/2019 bị Công an Quận 4 Thành phố H bắt, lập danh chỉ bản về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, qua xác minh không có hồ sơ nên không rõ hình thức xử lý.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến nay. “Có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn H là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 18 giờ ngày 29/01/2024, H điều khiển xe gắn máy Yamaha Nozza biển số 59C1-339.12 đi từ nhà đến khu vực Chợ X, Phường A, Quận H để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, H gặp và mua của đối tượng “Kiệt” (chưa rõ lai lịch) 02 gói ma túy “đá” giá 200.000 đồng. H đem số ma túy “đá” mua được về nhà lấy một ít ra sử dụng cho bản thân, số ma túy còn lại H cất vào trong bóp để dành sử dụng tiếp. Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 30/01/2024, H điều khiển xe Yamaha Nozza biển số 59C1-339.12 đi uống cà phê về đến trước số C B, Phường B, Quận D thì bị Tổ tuần tra Công an Q thấy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Kết quả, Cơ quan Công an phát hiện trong bóp da màu đen trong túi phía sau bên phải của H đang mặc có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu nghi vấn là ma túy nên đã tiến hành thu giữ vật chứng, đưa H về Trụ sở Công an P Quận 4 làm rõ, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tiến hành xét nghiệm, Lê Văn Hải dương t với ma túy Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 2132/KL-KTHS ngày 09/02/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn H và hình dấu Công an P, Quận D, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,0104 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với đối tượng tên “K” đã bán ma túy cho H tại khu vực Chợ X, Phường A, Quận H, quá trình điều tra qua xác minh địa điểm và xác minh tại địa phương Phường A, Quận H không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Đối với xe gắn máy Yamaha Nozza biển số 59C1-339.12, số khung RLCN1DB10DY151610, số máy 1DB1151623 và Giấy đăng ký xe, H mua của đối tượng “Vũ Điên” (không rõ lai lịch) và sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy. Qua xác minh, xe trên do bà Nguyễn Thị Cẩm T1 (sinh năm: 1979; HKTT: 2 T, Phường C, Quận D) đứng tên sở hữu. Năm 2023, bà T1 đã bán lại xe Yamaha Nozza biển số 59C1-339.12 cho “Phát” (không rõ lai lịch) nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã tiến hành đăng báo để tìm chủ sở hữu và người có liên quan đến xe gắn máy Yamaha Nozza biển số 59C1-339.12, nhưng chưa có ai đến nhận nên tạm giữ xe trên chờ giải quyết.

Vật chứng và vật hiện đang tạm giữ:

Tạm giữ của Lê Văn H:

  • 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn H và hình dấu Công an P Quận D, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
  • 01 bóp da màu đen do H sử dụng làm phương tiện cất giấu ma túy.
  • 01 xe gắn máy Yamaha Nozza biển số 59C1-339.12, số khung RLCN1DB10DY151610, số máy 1DB1151623.
  • 01 Giấy đăng ký xe gắn máy Yamaha Nozza biển số 59C1-339.12.
  • 01 điện thoại OPPO RENO 2F, số IMEI1: 869778040883697, số IMEI2: 869778040883689, là điện thoại cá nhân của H.
  • 5.000.000 đồng là tiền cá nhân của H.

Số vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Kho vật chứng – Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, tiền nộp Kho bạc Nhà nước Quận D để chờ giải quyết.

Tại Cáo trạng số 93/CT-VKSQ4 ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Lê Văn H mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 30/01/2024, tại trước số C B, Phường B, Quận D, Lê Văn H có hành vi cất giữ trong người 1,0104 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nên đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đối với bị cáo Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý đối với các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhưng bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị cáo có nhân thân rất xấu. Do đó, cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn H và hình dấu Công an P Quận D, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 bóp da màu đen do H sử dụng làm phương tiện cất giấu ma túy.

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại OPPO RENO 2F, số IMEI1: 869778040883697, số IMEI2: 869778040883689 và 5.000.000 đồng là tài sản cá nhân của Lê Văn H không liên quan đến vụ án.

- 01 xe gắn máy Yamaha Nozza biển số 59C1-339.12, số khung RLCN1DB10DY151610, số máy 1DB1151623 và 01 Giấy đăng ký xe gắn máy Yamaha Nozza biển số 59C1-339.12, là phương tiện bị cáo dùng đi mua ma túy: Tiếp tục đăng báo tìm kiếm người liên quan đến chiếc xe máy trên trong thời hạn 02 tháng, hết thời hạn trên mà không có ai đến liên hệ thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 99/2024 ngày 25/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 4 và Giấy nộp tiền vào kho bạc nhà nước ngày 25/6/2024)

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt Lê Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2024.

- Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn H và hình dấu Công an P Quận D, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 bóp da màu đen do H sử dụng làm phương tiện cất giấu ma túy.

- Trả lại cho Lê Văn H: 01 điện thoại OPPO RENO 2F, số IMEI1: 869778040883697, số IMEI2: 869778040883689 và 5.000.000 đồng là tài sản cá nhân của Lê Văn H không liên quan đến vụ án.

- 01 xe gắn máy Yamaha Nozza biển số 59C1-339.12, số khung RLCN1DB10DY151610, số máy 1DB1151623 và 01 Giấy đăng ký xe gắn máy Yamaha Nozza biển số 59C1-339.12, là phương tiện bị cáo dùng đi mua ma túy: Tiếp tục đăng báo tìm kiếm người liên quan đến chiếc xe máy trên trong thời hạn 02 tháng, hết thời hạn trên mà không có ai đến liên hệ thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 99/2024 ngày 25/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 4 và Giấy nộp tiền vào kho bạc nhà nước ngày 25/6/2024)

- Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc Lê Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Lê Văn H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Công an TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 4;
  • - Công an Quận 4;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM

PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 90/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử 02 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger