Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HS-ST

Ngày 09 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đào Thị May

Ông Trần Văn Khanh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đào Tiến D, sinh năm: 1993; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Bố: Đào Văn P (Đã chết); Mẹ: Lưu Thị H (Đã chết); Anh/chị em ruột: Có 02 người, D là thứ hai; Vợ: Đặng Thị Lệ H1, sinh năm: 1994, nghề nghiệp: Lao động tự do; Có 01 con nhỏ sinh năm 2022.

    Tiền án:

    • Ngày 02/12/2010 bị Tòa án phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 15 năm tù về tội “Giết người” (bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 03/6/2021).
    • Ngày 26/4/2024 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 20 năm tù về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy”.

    Tiền sự:

    Không.

    Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam S2 – Bộ C2. Có mặt.

  2. Họ và tên: Nguyễn Duy L, sinh ngày 21/11/2002; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Bố: Nguyễn Duy D1 (Đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1969, nghề nghiệp: Làm ruộng; Anh/chị em ruột: Có 02 người, L là thứ hai; Vợ, con: Chưa có;

    Tiền án:

    Ngày 16/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách ba năm về tội “Cố ý gây thương tích”.

    Tiền sự:

    Không.

    Lượng bị bắt tạm giam từ ngày 27/02/2024, hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

*Bị hại:

  • Bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 1978;
  • Ông Vũ Ngọc T, sinh năm 1971;

Đều có địa chỉ tại: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Đều vắng mặt.

*Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Đăng Thị Lệ H3; sinh năm 1994;
  • Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.

  • Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991;
  • Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

  • Ngân hàng thương mại cổ phần T6 (T7) chi nhánh T8, phòng Kinh doanh khu vực T, Trung tâm kinh doanh sản phẩm ô tô thành phố H; Địa chỉ: Lô A + 16, dãy B, khu H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội.
  • Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Đình A;

    Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà R, số D, đường L, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

  • Anh Trần Văn H4, sinh năm 1988;
  • Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

*Người làm chứng:

  • Anh Vũ Ngọc Trường S, sinh năm 2006;
  • Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

  • Ông Lê Hồng Q1, sinh năm 1969;
  • Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

  • Anh Hoàng Văn N1, sinh năm 1995;
  • Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

  • Chị Đoàn Anh T1, sinh năm 1994;
  • Địa chỉ: Tổ F, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

  • Ông Lê Văn T2, sinh năm 1961;
  • Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

  • Ông Phan Văn T3, sinh năm 1961;
  • Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

  • Ông Vương Văn T4, sinh năm 1986;
  • Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

  • Ông Le Khắc H5, sinh năm 1986;
  • Địa chỉ: Tổ C, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quản Ninh. Vắng mặt.

  • Bà Bùi Phương L1, sinh năm 1987;
  • Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

  • Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1965;
  • Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

  • Ông Trần Văn B, sinh năm 1961;
  • Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

  • Ông Nguyễn Cao C, sinh năm 1990;
  • Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

  • Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1984;
  • Địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Lê Hồng K1 sinh năm 1994 ở căn hộ A, nhà I L, phường B, quận H, thành phố Hà Nội nợ anh Lê Ngọc H6 ở thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh số tiền 43.000.000.000 đồng (Bốn mươi ba tỷ) chưa trả nên anh H6 đã trình báo Công an thành phố H đề nghị giải quyết và ủy quyền cho anh Lê Khắc H7, sinh năm 1986 ở tổ C, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh làm việc với Công an thành phố H giải quyết vụ án liên quan đến anh K1. Sau đó anh H7 có gặp bạn là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1989 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nói nếu biết anh K1 đang ở đâu thì báo cho anh H7 và Công an thành phố H để giải quyết. Anh Đ nhờ bạn là Lương Văn S1 sinh năm 1990 ở thôn T, xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên tìm K1 hộ. Soi có quan hệ là bạn bè với Đào Tiến D sinh năm 1993 ở tôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, D có quen biết Đặng Văn H8 sinh năm 1997 ở thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên, H8 là bạn của Nguyễn Duy L sinh năm 2002 ở thôn D, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

Do chị Lê Hồng N sinh năm 1978 ở thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên có mối quan hệ là cô ruột của anh K1 nên gia đình chị N đã bị Đào Tiến D, Đặng Văn H8 và Nguyễn Duy L thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản cụ thể như sau.

Đào Tiến D khai: Do có mối quan hệ quen biết với H8 và S1 nên khoảng 17 giờ ngày 27/5/2023, S1 gọi điện cho D bảo đến hát Karaoke ở quán K2 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, D đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, D một mình điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng biển số 89A-373.41 đi từ khu đô thị E thuộc xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên đến quán K2 để gặp S1. Đến khoảng 01 giờ ngày 28/5/2023, khi D đang ở quán hát thì Đặng Văn H8 gọi điện cho D qua mạng xã hội Facebook nói “Em bị đánh”, D hỏi “Ai đánh, xuống đây đón anh, anh say rượu, không lái được xe” thì H8 đồng ý. D gửi định vị vị trí của D qua tin nhắn cho H8 đồng thời nói lại với S1 là H8 bị đánh. Khoảng 30 phút sau, H8 đi T (Không rõ tên hãng taxi và người lái) đến gặp D, khi gặp nhau, D đưa chìa khóa xe ô tô của D cho H8 điều khiển, còn D ngồi ở ghế phụ bên cạnh ghế lái. Soi cũng điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Tucson, màu đỏ biển số: 30F-135.58 chở khoảng 04 nam thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi cùng D đến thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, khi đi S1 điều khiển xe ô tô đi trước, H8 điều khiển xe ô tô đi theo sau. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của S1 và H8 đến điểm dừng xe buýt ven đường Quốc lộ 5A chiều đường H - Hà Nội (đối diện với Trung tâm thương mại N3 thuộc địa phận thôn N, thị trấn N, huyện V) thì dừng lại.

Sau đó, S1 điều khiển xe ô tô Tucson đi về hướng gầm cầu chui chợ N4, còn nam thanh niên lạ mặt điều khiển xe mô tô của L đi sau tiếp đến là H8 điều khiển xe ô tô chở D và L đi theo sau cùng. Khi đi đến gầm cầu chui chợ N4 thì S1 và nam thanh niên đi xe mô tô rẽ vào trong thôn N, thị trấn N, còn H8 đi về hướng Hà Nội rồi đỗ lại ở điểm dừng xe buýt chiều Hải Phòng- Hà Nội đợi. Khi H8, D, L đợi được một lúc thì phát hiện ra Soi (đầu đội mũ lưỡi trai màu đen, đeo khẩu trang, mặc áo khoác dài tay màu đen, quần màu đen) điều khiển xe mô tô của L đi đến dừng bên cạnh xe ô tô của H8, H8 hạ cửa kính xuống thì S1 nói với D: “Bắn nhầm và phải quay lại để bắn tiếp”, đồng thời S1 đưa cho D một khẩu súng màu đen, dài khoảng 60 - 80cm, loại súng một nòng. D cầm và để khẩu súng dưới chân ngay vị trí D đang ngồi ở hàng ghế phụ, S1 quay lại điều khiển xe mô tô đi về hướng thôn N, thị trấn N, huyện V còn H8 điều khiển xe ô tô chở D và L đi theo sau. Khi đến cầu N, D bảo H8 “Chúng mày đi công việc mang theo cả súng đi bắn mà không che biển số, để biển số xe thế này à” thì H8 dừng xe lại ở giữa đường, D lấy hai túi nilon có sẵn trong xe đi ra dùng túi nilong che biển kiểm soát phía sau và phía trước xe ô tô lại, xong lại vào ngồi ở ghế phụ phía trước xe ô tô. Lúc này S1 đang điều khiển xe mô tô đi trước, H8 điều khiển xe ô tô đi theo phía sau, đi đến trước cổng nhà chị N thì S1 dừng xe lại. Soi lấy 01 khẩu súng màu đen (chưa xác định được loại súng gì) đang để ở giữa giá để đồ xe mô tô, rồi đi đến trước cổng nhà chị N dùng tay bắn vào trong nhà chị N nhưng súng không nổ nên S1 đi ra xe mô tô điều khiển đi qua nhà chị N. Tiếp đến xe ô tô của D từ phía sau đi đến trước cửa nhà chị N thì S1 quay lại, H8 dừng xe lại, D hạ kính cửa phụ xe ô tô xuống thì S1 bảo “súng không nổ” rồi đưa cho D khẩu súng mà S1 đang cầm. D cầm khẩu súng kiểm tra thì thấy trong nòng súng có 01 viên đạn, D làm động tác gập gập rồi đưa lại súng cho S1. Sau đó H8 tiếp tục điều khiển xe ô tô đi thẳng, còn S1 điều khiển xe mô tô cầm theo súng quay lại cổng nhà chị N thì dừng lại đỗ xe mô tô vào rìa đường, S1 cầm súng đi bộ đến trước cổng nhà chị N, dí súng qua khe cửa để bắn vào trong nhà chị N nhưng súng vẫn không nổ. Sau đó S1 điều khiển xe mô tô ra chỗ xe ô tô của D, thấy S1 đi đến, D đi ra khỏi xe ô tô để điều chỉnh súng cho S1. Khoảng 02 phút sau, S1 cầm súng quay lại cổng nhà chị N bắn một phát hướng vào trong nhà chị N thì súng nổ, lúc này D cũng cầm súng quay lại định bắn vào nhà chị N2 nhưng nghe thấy tiếng súng của S1 bắn đã nổ thì D không bắn nữa mà quay lại xe ô tô. Sau đó, S1 đi lên đưa khẩu súng cho D, rồi điều khiển xe mô tô đi trước về điểm dừng xe buýt rìa đường Quốc lộ 5A chiều Hải Phòng - Hà Nội, còn H8 điều khiển xe ô tô chở D và L đi theo sau, trên đường đi H8 dừng xe lại ở đường tháo túi nilong che biển kiểm soát xe ô tô ra. Rồi H8 tiếp tục điều khiển xe ô tô theo chiều đường H - Hà Nội đi đến điểm dừng xe buýt gặp S1. Sau đó L lấy xe mô tô đi về chỗ ở tại thôn Y, xã G, huyện Y, tỉnh Hưng Yên còn H8 chở S1 và D đến vòng xuyến thị trấn Y, huyện Y. Trên đường đi, S1 bỏ mũ lưỡi trai, khẩu trang và áo khoác mà S1 đang mặc ra rồi hạ cửa kính xe xuống vứt mũ, khẩu trang và áo xuống đường (chưa xác định được vị trí cụ thể), H8 điều khiển xe ô tô đi đến đến vòng xuyến thị trấn Y thì D trả lại khẩu súng cho S1, S1 cầm hai khẩu súng đi ra khỏi xe của H8 rồi sang xe Tucson đang đỗ ở rìa đường. Sau đó H8 ra khỏi xe ô tô để đi về, còn D điều khiển xe ô tô đi theo sau xe ô tô Tucson của S1 về quán K2 ở huyện Â. Sau đó D rủ S1 đi đến thành phố Hà Nội chơi. Sau không rõ S1 đi đâu.

Nguyễn Duy L khai nhận: Lượng có mối quan hệ quen biết với H8 nên khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/5/2023, L có nhận được điện thoại của H8 bảo đi xe mô tô đến Quốc lộ E gần trung tâm thương mại N5 ở thị trấn N, huyện V cho H8 mượn thì L đồng ý. Khoảng 05 phút sau, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, không biển số đi từ chợ Đ1 thuộc xã T, huyện V đến gặp H8. H8 bảo L đi xe mô tô đến chỗ xe ô tô Tucson biển số 30F-155.58. Lúc này L thấy có một nam thanh niên không rõ tên tuổi địa chỉ (đầu đội mũ lưỡi trai màu đen, đeo khẩu trang, mặc áo khoác dài tay màu đen, phía trước ngực và cánh tay có viền màu trắng, mặc quần dài màu đen có viền trắng) từ trong xe ô tô T5 đi ra rồi bảo L đưa xe mô tô cho mượn, người này ngồi lên xe mô tô của L, còn L đi bộ đến xe ô tô của H8 rồi ngồi ở hàng ghế phía sau. Sau đó L đi cùng H8, D đến nhà chị N. Lượng biết rõ có đối tượng đi xe mô tô của L dùng súng bắn làm hỏng cửa của gia đình chị N nhưng không xác định được đối tượng đó là ai.

Quá trình xác minh điều tra thì Đặng Văn H8, Lương Văn S1 và Nguyễn Văn Đ đã bỏ trốn không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho L nhận dạng qua ảnh đối với đối tượng S1 nhưng kết quả Lượng không nhận được vì tại thời điểm xảy ra sự việc là buổi tối, S1 đeo khẩu trang nên L không biết đặc điểm khuôn mặt mặt khác sau khi xảy ra sự việc thì H8 kể lại cho L biết chính S1 là người bắn súng vào nhà chị N nên L mới biết, giữa L và S1 không có mối quan hệ gì nên L không biết S1 là ai.

Sau khi sự việc xảy ra Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: Tại mặt bậc thềm thứ hai lên xuống phát hiện 03 viên bi đều hình tròn, bằng kim loại màu xám, đường kính 0,5cm, có vết tiếp xúc biến dạng, làm xước, sáng kim loại. Tại cửa cuốn để lại một vết lõm rách kim loại, kích thước (10 x 05)cm; trên mặt bậc thềm thứ ba để lại nhiều mảnh kính vỡ và 17 viên bi đều hình tròn, bằng kim loại màu xám, đường kính 0,5cm, có vết tiếp xúc biến dạng, làm xước, sáng kim loại; Trên mặt bậc thang số 3 để lại một miếng nhựa hình trụ tròn dài 06 cm, một đầu thủng, vết thủng hình tròn làm rách nhựa. Khung cửa kính cường lực cao 2,82m, rộng 3,55m, dày 01cm để lại một vết vỡ kính, kích thước (13 x 19) cm và rạn vỡ theo nhiều hướng, kính vỡ theo chiều từ ngoài vào trong. Trên nền nhà vương vãi nhiều mảnh kính vỡ nhỏ. Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 viên bi đều hình tròn, bằng kim loại màu xám, 17 viên bi đều hình tròn, bằng kim loại màu xám và 01 miếng nhựa hình trụ tròn dài 06 cm, một đầu thủng, vết thủng hình tròn làm rách nhựa (niêm phong ký hiệu “HT1”).

Ngày 04/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Lệnh khám xét số: 07 khám xét chỗ ở của Nguyễn Duy L tại thôn D, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 05/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V, kết luận:

  • “- Thiệt hại 01 (một) cánh cửa kính cường lực, kích thước (107 x 234 x 01) cm, tại vị trí cách nền nhà 1,8m có một vết vỡ kính, kích thước (13 x 19) cm và rạn vỡ theo nhiều hướng, tại thời điểm ngày 28/5/2023 có giá trị là: 800.000 đồng/01m2 và tổng trị giá của 01 cánh cửa là (1,07 x 2,34) m = 2,503m2 x 800.000 đồng = 2.002.400 đồng (Hai triệu không trăm linh hai nghìn bốn trăm đồng).
  • - Thiệt hại 01 (một) cửa cuốn bằng kim loại, màu xám, nhãn hiệu Netdoor, kích thước (350 x 280 x 01) cm, tại vị trí cách mép cửa cuốn về hướng tây 02 m, cách mặt nền nhà 1,84m có một vết lõm và rách kim loại, kích thước (10 x 05)cm, tại thời điểm ngày 28/5/2023 có giá trị là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
  • - Thiệt hại 01 (một) tấm nhựa màu trắng, kích thước (160 x 60 x 0,1cm), tại vị trí cách trụ cổng về hướng tây 1,2m, cách mặt đất 1,5m có vết rách nhựa, kích thước (12 x 14cm), tại thời điểm ngày 28/5/2023 có giá trị là 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).
  • Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 2.512.400 đồng (Hai triệu năm trăm mười hai nghìn bốn trăm đồng).”

Ngày 30/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định Trưng cầu giám định tại V - Bộ C2 đối với các mẫu vật niêm phong ký hiệu “HT1” thu giữ tại hiện trường. Ngày 17/7/2023, V - Bộ C2 ra Bản kết luận giám định số: 4066/KL-KTHS, kết luận:

“Các mẫu vật ký hiệu HT1 gửi giám định là thành phần nhồi (đóng) được trong đạn ghém cỡ 12. Đạn ghém cỡ 12 thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng, sử dụng bắn được bằng súng săn hoặc súng tự chế (thuộc vũ khí quân dụng) có ổ chứa đạn lắp được đạn ghém cỡ 12. Khi sử dụng các loại súng này bắn đạn vào cơ thể người gây chết hoặc bị thương.

- Không đủ cơ sở kết luận các mẫu vật gửi giám định do bao nhiêu khẩu súng bắn ra”.

Ngày 19/7/2023, V - Bộ C2 ra Bản kết luận giám định số: 4083/KL-KTHS, kết luận: “trong các mẫu vật gửi giám định đều tìm thấy dấu vết của thuốc súng và cùng một loại thuốc súng.”

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã sao lưu, trích xuất các tệp video ghi lại nội dung diễn biến vụ việc. Ngày 10/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định hình ảnh các tập video trên. Tại Bản kết luận giám định số: 261 ngày 27/11/2023 của Phòng K3 - Công an tỉnh H đối với 18 tệp video trên như sau:

  • “- Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 18 (Mười tám) file video trong mẫu niêm phong ký hiệu Al gửi giám định.
  • - Trích xuất hình ảnh phương tiện, những người có mặt trong 18 (Mười tám) tệp video và phân tích diễn biến hành vi, mô tả đặc điểm của các đối tượng, các đồ vật, tài sản các đối tượng mang theo (Có bản ảnh gồm: 28 tờ giấy A4 kèm theo).”

Như vậy quán trình điều tra đã xác định được Nguyễn Tiến D2, Đặng Văn H8Nguyễn Duy L đã giúp sức cho đối tượng đội mũ lưỡi trai màu đen, đeo khẩu trang, mặc áo khoác dài tay màu đen, phía trước ngực và cánh tay có viền màu trắng, mặc quần dài màu đen có viền trắng dùng súng bắn làm hư hỏng cửa của gia đình chị N gây thiệt hại 2.512.400 đồng.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia K3 biển số 89A-373.41 D2 sử dụng đi thực hiện hành vi phạm tội ngày 20/7/2023 anh Nguyễn Văn Q sinh năm 1991 ở thôn N, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên giao nộp chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng, BKS: 89A- 373.41. Cơ quan điều tra đã làm rõ: chủ đăng ký chiếc xe mô tô trên là chị Đặng Thị Lệ H1 (vợ Đào Tiến D). Ngày 14/3/2023, chị H1 và D vay số tiền 440.000.000 đồng và thế chấp chiếc xe ô tô trên tại Ngân hàng thương mại cổ phần T6 (T9). Ngày 19/7/2023, chị H1 và D đã ký gửi chiếc xe ô tô trên cho anh Nguyễn Văn Q là chủ cửa hàng G ô tô “Việt Anh A1” lấy số tiền 260.000.000 đồng rồi nhờ anh Q bán chiếc xe trên nếu được giá để chị H1 và D thanh toán trả nợ Ngân hàng lấy giấy đăng ký gốc đưa cho anh Q, thì anh Q đồng ý, tuy nhiên hiện nay vợ chồng D chưa thanh toán trả nợ cho Ngân hàng.

Ngày 29/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã thu giữ của Nguyễn Duy L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, bên trong máy lắp số thuê bao 0345580619. Qua điều tra xác định L không sử dụng vào việc phạm tội. Còn chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphong 6S Plus Lượng sử dụng liên lạc với H8 đã làm mất nên không thu giữ được.

Đối với chiếc xe ô tô Tucson biển số 30F-135.58, D khai Soi sử đụng đi thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản nhà chị N. Ngày 12/12/2023 anh Trần Văn H4 sinh năm 1988 ở thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên đã giao nộp 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Tucson màu đỏ biển số : 30F-135.58 cho Cơ quan CSĐT- Công an huyện V. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của vợ chồng anh H4. Anh H4 cho S1 mượn chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi lại nhưng không biết S1 đi đâu, sử dụng vào mục đích gì.

Đối với 01 phong bì thư niêm phong số: 4066/KL-KTHS(MT) ngày 17/7/2023 của V - Bộ C2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, bên trong máy lắp số thuê bao 0345580619; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng, BKS: 89A- 373.41; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Tucson, màu đỏ, BKS: 30F-135.58, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhập kho vật chứng của Công an huyện V chờ xử lý theo quy định.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu đen không gắn biển số mà L cùng đồng bọn sử dụng vào việc phạm tội. L khai nhận: L tự lấy xe tại chỗ của anh Hoàng Văn C1 sinh năm 1991 ở thôn G, xã G, huyện Y. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội xong thì L đã trả lại chiếc xe trên cho anh C1. Anh C1 không biết việc L cùng đồng bọn sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhiều lần đến chỗ ở của anh Hoàng Văn C1 để triệu tập nhưng C1 không có mặt tại địa phương nên chưa thu giữ được chiếc xe mô tô trên và chưa làm việc được với anh C1.

Quá trình điều tra chị N còn khai, trước thời điểm chị bị D cùng đồng bọn bắn vào nhà làm hư hỏng tài sản thì có số điện thoại 0394.648.xxx và 0565308942 đã gọi, nhắn tin đe dọa chị N. Ngày 08/12/2023 và 11/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Lệnh thu giữ điện tín để làm rõ chủ thuê bao và nhật ký nội dung giao dịch, cụ thể như sau: Thuê bao của số điện thoại: 0394.648.xxx đăng ký tên chị Sòng Thị L2, sinh ngày 01/01/2005, địa chỉ: bản P, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La. Hiện chị L2 không có mặt tại địa phương. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện V chưa có căn cứ để xử lý đối với chị L2.

Số thuê bao 0565308942 đăng ký tên chị Trần Thị Vân A2, sinh ngày 11/11/1985, địa chỉ thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành làm việc với chị Vân A2 thể hiện: Từ trước đến nay chị Vân A2 không đăng ký, không sử dụng số thuê bao di động trên và cũng không cho ai mượn giấy tờ tùy thân của mình để làm thủ tục đăng ký số thuê bao di động. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ để xử lý đối với chị Vân A2.

Đối với Lê Văn H9, Lê Hồng K1 và Nguyễn Văn Đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập để làm việc nhưng K1, H9, Đ đều không có mặt tại địa phương nên tiếp tục điều tra làm rõ giải quyết sau.

Đối với Lương Văn S1, Cơ quan CSĐT đã nhiều lần triệu tập nhưng S1 không có mặt tại địa phương. Ngày 18/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định truy tìm người số 30 đối với S1. Đến nay, Cơ quan CSĐT Công an huyện V chưa làm việc được với S1. Ngoài lời khai, kết quả nhận dạng của bị can D ra thì không có tài liệu, căn cứ gì khác để chứng minh. Do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ giải quyết sau. Đối với Đặng Văn H8 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định truy nã số: 07 đối với Đặng Văn H8, đồng thời ra quyết định tách vụ án số 278 ngày 28/02/2024 tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của H8 và hành vi của một số đối tượng khác liên quan nêu trên để giải quyết sau.

Về trách nhiệm dân sự: Chị N yêu cầu các bị can phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Ngày 26/02/2024, chị Đặng Thị Lệ H1 (vợ bị can D) đã tự nguyện thay D bồi thường cho chị N số tiền 5.000.000 đồng. Chị N đã nhận đủ số tiền trên và tự nguyện không có yêu cầu đề nghị gì. Chị H1 cũng không yêu cầu đề nghị gì.

Cáo trạng số: 36/CT-VKS-VL ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố các bị cáo Đào Tiến D, Nguyễn Duy L về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 điều 178 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa:

  • *Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
  • *Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố; đồng thời đề nghị HĐXX:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đào Tiến D, Nguyễn Duy L phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đào Tiến D;
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 56; Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Duy L;

Xử phạt các bị cáo Đào Tiến D, bị cáo Nguyễn Duy L từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; Đồng thời tổng hợp hình phạt tại bản án số 19/2021/HSST ngày 16/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên đối bị cáo L.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong số 4066/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của VKHHS – Bộ C2.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy L: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, bên trong máy lắp số thuê bao 0345580619
  • - Trả lại 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Tucson, màu đỏ, BKS: 30F-135.58 cho anh Trần Văn H4 sinh năm 1988 ở thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
  • - Giao cho chị Đặng Thị Lệ H1 và ngân hàng TMCP T10 giải quyết xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng, BKS: 89A- 373.41 đối với khoản vay nợ của vợ chồng bị cáo với ngân hàng TMCP T10.
  • - Đối với việc vợ chồng bị cáo D ký gửi chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng, BKS: 89A- 373.41 cho anh Nguyễn Văn Q để vay tiền; Đề nghị HĐXX không giải quyết trong vụ án. Nếu giữa vợ chồng bị cáo D và anh Q có yêu cầu xử lý về giao dịch dân sự nói trên sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị hại, của người liên quan, của người làm chứng, của các hình ảnh trích xuất được thu giữ cùng các tài liệu khác Cơ quan CSĐT thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu và đã có đủ cơ sở xác định:

“Khoảng 03 giờ 20 phút ngày 28/5/2023 tại cửa nhà chị Lê Hồng N ở thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Đào Tiến D, Nguyễn Duy L, Đặng Văn H8 đã cùng một số đối tượng khác thực hiện hành vi dùng súng tự chế bắn vào cửa nhà chị N gây hư hỏng bẹp lõm một góc cửa cuốn và vỡ cửa kính cường lực, thiệt hại tài sản tổng trị giá là 2.512.400đ. Sau đó thì bị phát hiện.”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm truy tố các bị cáo về các tội danh như trên là phù hợp pháp luật.

[3] Xét tính chất và vai trò của các bị cáo trong từng hành vi thực hiện tội phạm:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an; ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương. Vì vậy cần phải nghiêm trị đối với các bị cáo. Có vậy mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo và cũng là bài học giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này, D giữ vai trò đồng phạm chính; trực tiếp dùng ô tô là phương tiện của mình đang quản lý; chuẩn bị súng, hưỡng dẫn S1 cách sử dụng súng và giúp sức tích cực cho S1 trực tiếp sử dụng súng làm hư hỏng tài sản; Còn L thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm tích cực. Vì vậy HĐXX sẽ căn cứ vào tính chất, mức độ của tội phạm của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt khi lượng hình.

Xét nhân thân của từng bị cáo, HĐXX nhận định:

Đối với bị cáo Đào Tiến D: Bị cáo có nhân thân xấu; Đã từng bị xử phạt về tội “Giết người”, sau khi chấp hành hình phạt một thời gian dài tù, bị cáo lại tiếp tục bị xử phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này. Điều này thể hiện bị cáo là người không có ý thức hối cải, rèn luyện tu dưỡng đạo đức, liều lĩnh, coi thường pháp luật và côn đồ thể hiện qua việc giữa bị cáo và bị hại không có mối quen biết hay mâu thuẫn cá nhân từ trước, nhưng bị cáo vẫn tích cực thực hiện hành vi phạm tội đến cùng và chỉ dừng lại khi người khác đã thực hiện xong hành vi thực hiện tội phạm. Vì vậy cần phải nghiêm trị đối với bị cáo; Cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian trên cơ sở xem xét việc bị cáo phạm tội trong trường hợp “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên khi lượng hình, HĐXX cũng cân nhắc: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; Ngoài ra, bị cáo đang trực tiếp thờ cúng ông nội là liệt sỹ. Vì vậy, nay HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Duy L: Bị cáo có nhân thân xấu, trước khi phạm tội, bị cáo đang phải chấp hành thời gian thử thách đối của hình phạt tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, nay bị cáo tiếp tục thực hiện tội phạm trong trường hợp tái phạm. Vì vậy HĐXX xét thấy cần phải nghiêm trị đối với bị cáo; đồng thời cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trên cơ sở tổng hợp hình phạt chung của hai hành vi bị cáo đã phạm tội mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn và làm thuê kiếm sống. Để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, nay HĐXX sẽ miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo

[5] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 phong bì thư niêm phong số 4066/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của VKHHS - Bộ C2 là mẫu vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, bên trong máy lắp số thuê bao 0345580619 của bị cáo Nguyễn Duy L không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
  • Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Tucson, màu đỏ, BKS: 30F-135.58, anh Trần Văn H4 cho S1 mượn chiếc xe này, nhưng không biết S1 sử dụng vào mục đích để thực hiện tội phạm nên nay cần trả lại anh H4.
  • Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng, BKS: 89A- 373.41 đứng tên chị Đặng Thị Lệ H1, đây là tài sản vợ chồng bị cáo Đào Tiến D đã thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần T10 (T7) để vay tiền theo hợp đồng vay tài sản ngày 14/3/2023. Sau khi ký kết hợp đồng vay tài sản, Ngân hàng T10 đã tiếp tục giao chiếc xe ô tô trên cho vợ chồng bị cáo D để có phương tiện làm ăn, phát triển kinh tế. Việc bị cáo D dùng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội, ngân hàng TMCP T10 không biết việc này. Ngoài ra, tại Điều 4 của quy định chung về cho vay của ngân hàng TMCP T10 đã quy định ngân hàng TMCP T10 có quyền xử lý tài sản của khách hàng để thu hồi nợ trong trường hợp tài sản bị cơ quan chức năng thu giữ theo quy định pháp luật. Đây là thỏa thuận giữa ngân hàng TMCP T10 và vợ chồng bị cáo D, được đồng ý bởi hai bên khi ký hợp đồng vay tài sản. Vì vậy, nay cần chấp nhận đề nghị của ngân hàng TMCP T10; đồng thời cần giao cho chủ đăng ký quyền sở hữu của chiếc xe là chị H1 và ngân hàng TMCP T10 xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe nói trên theo pháp luật.
  • Đối với việc vợ chồng bị cáo D ký gửi chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng, BKS: 89A- 373.41 cho anh Nguyễn Văn Q để vay tiền. Đây là giao dịch dân sự phát sinh sau khi đã thực hiện một giao dịch có hiệu lực pháp giữa chị H1 và ngân hàng TMCP T10. Vì vậy nếu giữa vợ chồng bị cáo D, chị H1 và anh Q có yêu cầu về giao dịch dân sự nói trên sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[6] Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo như trên là phù hợp nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đào Tiến D, Nguyễn Duy L phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đào Tiến D;

Xử phạt bị cáo Đào Tiến D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành bản án này.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 56; Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Duy L;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 1 năm 6 tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 16/12/2020 đến ngày 07/4/2021 của bản án số 19/2021/HSST ngày 16/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

Nay buộc bị cáo Nguyễn Duy L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 16/12/2020 đến ngày 07/4/2021 (3 tháng 21 ngày) của bản án số 19/2021/HSST ngày 16/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên;

Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 2 (hai) năm 11 (mười một) tháng 9 (chín) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 27/02/2024.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong số 4066/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của VKHHS – Bộ C2.
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy L: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, bên trong máy lắp số thuê bao 0345580619
  • Trả lại 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Tucson, màu đỏ, BKS: 30F-135.58 cho anh Trần Văn H4 sinh năm 1988 ở thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
  • Giao cho chị Đặng Thị Lệ H1 và ngân hàng TMCP T10 giải quyết xử lý tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng, BKS: 89A-373.41 đối với khoản vay nợ của vợ chồng bị cáo, chị H1 với ngân hàng TMCP T10.

[4] Về án phí: Các bị cáo Đào Tiến D, Nguyễn Duy L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện Văn Lâm;
  • - Công an huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lâm
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nam Thắng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lê Quang Điện Kháng

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nam Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 90/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Tiến D và Nguyễn Duy L phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger