|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/HSST
Ngày 09 – 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Rành;
- Bà Hồ Thị Lệ Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 06 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Châu Hoàng K, tên gọi khác: không, giới tính: nam, sinh năm 2000 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E C, phường B, quận B, Thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú: không có nơi cư trú rõ ràng; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 04/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Châu Hồng Út E và bà An Thúy N; Chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự:
Quyết định số 115/2021/QĐ-TA ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng. Ngày 05/01/2023, Châu Hoàng K chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Trần Ngọc C, sinh năm 1999; Địa chỉ: Số A N, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Trần Công M, sinh năm 1970; Địa chỉ: ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
2/ Ông Ngô Đức A, sinh năm 1999; Địa chỉ: H B, phường B, quận H, Hà Nội. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Châu Hoàng K và ông Trần Ngọc C là bạn bè quen biết nhau, K thường xuyên đến nhà trọ của ông C, tại địa chỉ số A N, phường P, Quận G, T phô Hồ Chí Minh để chơi và ăn uống.
Vào khoảng 23 giờ 45 ngày 20/4/2023, K đi xe Grap đến nhà của ông C chơi. Khi đến nhà, K thấy đèn bên trong nhà đã tắt, cửa nhà không khóa, K mở cửa đi vào trong nhà, thấy mọi người đang ngủ. Tại Tầng trệt nhà, K thấy xe mô tô hiệu Suzuki Satria F150, biển số 68C1-672.16 cắm sẵn chìa khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp. K lấy trộm xe mô tô hiệu Suzuki Satria F150 biển số 68C1-672.16 của ông C dẫn ra ngoài sân, mở khóa xe nổ máy tẩu thoát.
Sau đó, K liên lạc với L (không rõ nhân thân lai lịch) là bạn ngoài xã hội để bán, L hẹn K đem xe đến trước nhà số C đường C, phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để giao xe và nhận tiền. K bán xe cho L được số tiền là 5.000.000 đồng. Số tiền này K tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 21/4/2023, ông Trần Ngọc C thức dậy phát hiện xe mô tô biển số 68C1-672.16 bị mất, nên ông C đến Công an phường P trình báo. Qua kiểm tra camera khu trọ, phát hiện có một đối tượng chạy xe của ông C ra khỏi phòng trọ.
Ngày 25/6/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố vụ án hình sự, quá trình điều tra không xác định được bị can. Ngày 25/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự.
Qua quá trình truy xét: Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 02/04/2024, Tổ tuần tra 363 Công an Quận 7 tiến hành kiểm tra hành chính Châu Hoàng K và đưa về trụ sở Công an phường P, Quận G để làm việc. Tại đây, Châu Hoàng K khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Theo Kết luận định giá số 136/KL-HĐ ĐGTTHS ngày 12/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận G, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria F150, biển số 68C1-672.16, có giá trị 33.300.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- 01 (Một) xe mô tô hiệu Suzuki Satria F150, số máy CGA1-ID200172, số khung MH8DL11AZKJ200282. Do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q thu giữ của ông Ngô Đức A, chuyển nguồn tin về tội phạm cho Công an Q1. Qua xác minh số máy và số khung thì xe có biển số 68C1-672.16 do ông Trần Công M đứng tên đăng ký xe. Ông M giao xe cho con trai là ông Trần Ngọc C làm phương tiện đi lại. Ngày 20/4/2023, ông C để trong nhà thì bị Châu Hoàng K lấy trộm sau đó bán cho người tên L (không rõ nhân thân, lai lịch). Ông Ngô Đức A mua lại chiếc xe trên của người tên V không rõ nhân thân, lai lịch. Ngày 08/5/2023, Ngô Đức A có biểu hiện nghi vấn do sử dụng ma túy nên bị T1 tuần tra 363 Công an Quận 10 đưa về làm việc. Tại trụ sở công an P, Quận A, ông Ngô Đức A khai: mua chiếc xe nêu trên của V với giá 9.900.000 đồng, không làm giấy tờ mua bán gì vì V nói bị mất giấy tờ xe. Ngày 03/7/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra công an Q1 đã trả lại xe cho bị hại Trần Ngọc C.
Về dân sự: Bị hại là ông Trần Ngọc C đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Bản cáo trạng số 95/CT-VKSQ7 ngày 11 tháng 06 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: bị cáo Châu Hoàng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Châu Hoàng K tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Châu Hoàng K đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, tài sản bị chiếm đoạt là 01 (Một) xe mô tô hiệu Suzuki Satria F150, số máy CGA1-ID200172, số khung MH8DL11AZKJ200282 có giá trị là 33.300.000 đồng.
Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Châu Hoàng K về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Châu Hoàng K từ 01 (Một) năm tù đến 02 (Hai) năm tù;
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị không xét.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét.
Bị cáo Châu Hoàng K đã thừa nhận hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” như đã nêu trên, không tranh luận gì, bị cáo biết lỗi và nói lời sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Châu Hoàng K đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản là 01 (Một) chiếc xe mô tô hiệu Suzuki Satria F150, số máy CGA1-ID200172, số khung MH8DL11AZKJ200282 của ông Trần Ngọc C. Theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G thì xe có giá trị là 33.300.000 đồng. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Bị cáo từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc nhưng không chịu lo làm ăn, tham lam tư lợi, lười nhác lao động, đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội cần phải xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản thu hồi được trả cho người bị hại và người bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về vật chứng: Vật chứng đã được cơ quan cảnh sát điều tra công an Q1 xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Trần Ngọc C đã nhận lại tài sản, có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tại phiên tòa vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với số tiền 5.000.000 đồng là số tiền K khai sau khi trộm cắp xe thì bán xe cho người tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) mà có được. Trong vụ án này do chưa xác định được người tên L và không ai có ý kiến yêu cầu bị cáo K trả lại số tiền 5.000.000 đồng nêu trên nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Đối với ông Ngô Đức A là người mua xe mô tô hiệu Suzuki Satria F150, số máy CGA1-ID200172, số khung MH8DL11AZKJ200282 không biết xe là tài sản do phạm tội mà có, Cơ quan cảnh sát điều tra công an Q1 không xem xét xử lý là có căn cứ. Ông Ngô Đức A không có yêu cầu bồi thường về số tiền 9.900.000 đồng đã đưa V khi mua xe và vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Đối với người tên L mua xe của bị cáo K, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ, khi nào đủ căn cứ xử lý sau.
[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:
Bị cáo Châu Hoàng K 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/4/2024.
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo Châu Hoàng K phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
- Căn cứ Khoản 1 Điều 333, Khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Luyến |
Bản án số 90/2024/HSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 90/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châu hoàng K trộm cắp tài sản
