Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 90/2023/HS-ST

Ngày: 07-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Như

2. Ông Phạm Quốc Vượng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2023/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2023/QĐXXST-HS ngày 24/10/2023 đối với các bị cáo:

1. Trần Thu N, sinh năm 2001; Nơi sinh: tỉnh Bình Phước.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

Cha: Trần Văn H, sinh năm 1970, Mẹ: Nguyễn Thị Việt T, sinh năm 1970. Bị cáo có hai anh em ruột: Lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo sống chung như vợ chồng với Văn Đức M, sinh năm 1997; Bị cáo có 02 con tên Trần An D, sinh năm 2018 và Trần Đình An P, sinh năm 2023.

Tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 28/6/2023 có hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại tổ B, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang. Đến ngày 06/7/2023 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

2. Văn Đức M, sinh năm 1997; Nơi sinh: tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chỗ ở hiện nay: khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

Cha: Văn Dương M1, sinh năm 1972, Mẹ: Hoàng Thị H1, sinh năm 1977. Bị cáo có ba anh em ruột: Lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2012; Bị cáo có vợ tên Hồ Thị Kim L, sinh năm 1997; Bị cáo có 02 con, tên Văn Hoàng An N1, sinh năm 2018 và Văn Hoàng An L1, sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 28/6/2023 có hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại tổ B, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang và tạm giữ. Đến ngày 06/7/2023 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh Tạm giam cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thu N và Văn Đức M chung sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm 2021 tại khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Khoảng tháng 6/2023, Trần Thu N nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho người khác để thu lợi bất chính.

Ngày 24/6/2023, N mua 4 gói ma túy với giá 200.000₫ của 01 người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch để bán lại cho người khác.

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28/6/2023, Trần Thu N cùng Văn Đức M đang ở nhà tại tổ G, khu phố P, phường P, thị xã B thì Điểu G gọi điện thoại cho N nói muốn mua 300.000 đồng ma túy, N đồng ý bán và hẹn giao ma túy cho G tại khu vực cổng chào ấp S thuộc xã T, huyện H. Sau đó, N nói Văn Đức M chở N đi bán ma túy cho G thì M đồng ý. N lấy 03 gói ma túy đá giấu trong lỗ gạch bên hông nhà cầm bằng tay phải rồi M điều khiển xe môtô nhãn hiệu Wave RSX màu đỏ đen, biển số 93E1–139.22 chở N từ nhà đến điểm hẹn để bán ma túy cho G. Khi M chở N đến cổng chào ấp S thuộc xã T, huyện H thì thấy G đang ngồi trên một xe môtô đợi sẵn. M điều khiển xe đi đến chỗ G để bán ma túy, khi N và G đang nói chuyện với nhau, chưa kịp giao ma túy cho G thì có lực lượng Công an đến kiểm tra. Thấy vậy, N liền ném 03 gói ma túy đang cầm nắm trong lòng bàn tay phải xuống đất, cách vị trí N đứng khoảng 02 mét để phi tang thì lực lượng Công an đã phát hiện, tiến hành thu giữ toàn bộ 03 gói ma túy, lập biên bản niêm phong số ma túy và lập biên bản bắt quả tang với Trần Thu N và Văn Đức M. Khám xét tại nhà N Cơ quan điều tra thu giữ thêm 01 gói ma tuý có trọng lượng 0,1675gam, N khai cất giấu để bán lại cho người nghiện ma tuý.

Xét nghiệm chất ma túy đối với Trần Thu N và Văn Đức M cho kết quả âm tính, không sử dụng ma túy.

Tại Bản Kết luận giám định số: 727/2023/GĐ ngày 05/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M, M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng lần lượt là: M = 0,3750gam; M1 = 0,1675gam (BL 64).

Vật chứng thu giữ của vụ án: 01 gói ma túy được niêm phong ký hiệu M, có khối lượng 0,3750gam, khối lượng còn lại sau giám định là 0,2372gam Methamphetamine; 01 gói ma túy được niêm phong ký hiệu M1, có khối lượng 0,1675gam, khối lượng còn lại sau giám định là 0,1059gam Methamphetamine; 01 điện thoại Iphone Xs Max, ốp lưng màu hồng; 01 điện thoại Mastel màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 93E1 – 139.22; Số tiền 300.000đ.

* Trách nhiệm dân sự: Không phát sinh trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 09/10/2023 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trần Thu N và Văn Đức M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Thu N mức án từ 28 tháng đến 32 tháng tù và Văn Đ Mẫn mức án từ 24 tháng đến 28 tháng tù.

Đề nghị xử lý vật chứng vụ án:

Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Đối với số ma túy được niêm phong sau khi giám định còn lại 0,2372gam và 0,1059gam, đây là vật chứng vụ án. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên tịch thu, tiêu hủy theo quy định pháp luật.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 93E1 – 139.22; 01 điện thoại Mastel màu đen. Quá trình điều tra xác định các tài sản trên là của bà Nguyễn Thị Việt T (mẹ của N). Bà T không biết việc N sử dụng các phương tiện trên để mua bán ma túy. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS, Cơ quan CSĐT Công an huyện huyện H đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Việt T là đúng quy định.
  • Đối với 01 điện thoại Iphone Xs Max, ốp lưng màu hồng, N không sử dụng liên lạc đề mua ma túy, không liên quan đến vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên trả lại cho bị cáo N.
  • Số tiền 300.000₫ là tiền Điểu G dùng để mua ma túy sử dụng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Các bị cáo không có tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Trần Thu N và Văn Đức M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên Trần Thu N đã nảy sinh ý định và mua 04 gói ma tuý mang về nhà cất giấu nhằm bán lại cho người nghiện ma tuý để kiếm lời.

Khoảng 10 giờ ngày 28/6/2023, Điểu G liên hệ với Trần Thu N để mua ma tuý thì được N đồng ý bán. Sau khi thoả thuận việc mua bán ma tuý thì N nói cho Văn Đ Mẫn biết và nhờ M chở đi bán ma tuý cho G thì M đồng ý. Khi N và G chuẩn bị mua bán ma tuý thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại hiện trường 03 gói ma tuý có trọng lượng 0,3750gam. Khám xét tại nhà N Cơ quan điều tra thu giữ thêm 01 gói ma tuý có trọng lượng 0,1675gam, N khai cất giấu để bán lại cho người nghiện ma tuý.

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với Biên bản bắt quả tang, Kết luận giám định, phù hợp với lời khai khác và vật chứng của vụ án. Như vậy, có căn cứ xác định hành vi mua ma túy để bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy để kiếm lợi bất chính của các bị cáo Trần Thu N và Văn Đức M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt như trên là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân: Ma túy là chất gây nghiện, là nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe, suy thoái nòi giống. Tệ nạn ma túy còn được xem là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm, làm lan truyền đại dịch HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội.

Các bị cáo đang ở độ tuổi lao động, có đủ điều kiện lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì lười lao động, các bị cáo lại tham gia vào việc mua bán ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là sự tiếp tay cho số lượng đối tượng nghiện ma túy ngày càng tăng, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện.

Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn nhưng vai trò của bị cáo N là chủ động đi mua ma túy về, cất dấu để bán kiếm lời nên bị cáo N phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn. Đối với bị cáo M biết N mua bán ma túy trái phép là vi phạm pháp luật nhưng cũng đã giúp sức chở bị cáo N đi để bán ma túy. Số ma túy N cất giấu ở nhà M không biết nên không phải chịu với số ma túy này.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, nhân thân tốt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định của điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với Điểu G là người mua ma tuý của Trần Thu N để sử dụng vào ngày 28/6/2023, Công an huyện H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 71/QĐ-XPHC ngày 20/9/2023 là đúng quy định.

Đối với người thanh niên bán ma tuý cho Trần Thu N, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ đề nghị xử lý.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự nên HĐXX không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đề nghị xử lý vật chứng như trên là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật;

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thu N và Văn Đức M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

  2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
    • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Thu N mức án 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt bị cáo đi Thi hành án.
    • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Văn Đức M mức án 02 (hai) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 28/6/2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh trách nhiệm dân sự.
  4. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy được niêm phong sau khi giám định còn lại 0,2372gam và 0,1059gam.
    • Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000đ là tiền Điểu G dùng để mua ma túy sử dụng.
    • Trả lại cho bị cáo Trần Thu N 01 điện thoại Iphone Xs Max màu vàng đồng, ốp lưng màu hồng, N không sử dụng liên lạc đề mua ma túy, không liên quan đến vụ án.
    • Các vật chứng khác, trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.

    (Các vật chứng được thể hiện như mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản và Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản số 0005940 ngày 10/10/2023 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Trần Thu N, Văn Đức M mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo:

    Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Bị cáo; ĐS
  • - Bộ phận HSNV CA Hớn Quản;
  • - Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Đình Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 90/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tù có thời hạn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger