|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2024/HS-ST Ngày: 07/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn Việt
Ông Nguyễn Ngọc Cang
Bà Đỗ Thị Lài
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Minh T, sinh năm 1994 tại Sóc Trăng; Thường trú: ấp M, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: số A đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn H (sinh năm 1966) và bà Trương Hồng H1 (sinh năm 1967); đã ly hôn vợ là Nguyễn Thị Hồng T1 (sinh năm 1996) và có 01 con sinh năm 2020. Tiền sự: không.
Tiền án: Bản án số 91/2020/HSST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 15/8/2022.
Bị bắt ngày 21/02/2024, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: ấp Q, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: số A đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn L (sinh năm 1960) và bà Nguyễn Thị Đ1 (sinh năm 1969); chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 15/12/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh T: Luật sư Nguyễn Bá Đ2 + Luật sư Trần Đức H2 – Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02h30' ngày 15/12/2023, tại nhà số A C, phường A, thành phố V, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố V phối hợp Công an phường 11, Công an phường A thành phố V bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 nỏ thủy tinh chứa chất kết tinh không màu trong suốt;
- 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đen, Imei: 359093385737335 đã qua sử dụng (thu giữ của Đ).
- 200 viên nén màu tím bên trên hai bề mặt có in hình giống hình cánh bướm.
- 150 viên nén hình bầu dục màu xám trắng trên một bề mặt có in hình vương miện.
- 06 gói nylon chứa chất bột mịn màu trắng.
Nguyễn Văn Đ khai nhận: chất kết tinh không màu, trong suốt chứa trong nỏ thủy tinh là ma túy đá của Nguyễn Minh T cho Đ để sử dụng; 04 gói ma túy ở phía sau các tấm mút cách âm dán xung quanh 04 bức tường của phòng ngủ tầng 1, một gói ny lon màu đen có 350 viên nén ma túy thuốc lắc và 01 gói ma túy ở phía bên ngoài cửa sổ thoát hiểm tại tấm ô văng cửa sổ phòng ngủ tầng 1, 01 gói ma túy ở phía bên ngoài trên thành cửa ra vào phòng ngủ tầng 1 là của Nguyễn Minh T mua về để bán lại cho người khác.
Mở rộng điều tra, ngày 21/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Minh T, thu giữ vật chứng gồm: 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen, nứt bể phía sau, I: 357751107644566 đã qua sử dụng.
- Lời khai của Nguyễn Văn Đ: Đ là người nghiện ma túy. Để có tiền tiêu xài cá nhân và ma túy để sử dụng, Đ đồng ý giúp Nguyễn Minh T bán ma túy cho nhiều người khác. Mỗi lần bán Đ sẽ được T trả công từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng, thỉnh thoảng T sẽ cho Đ tiền và ma túy để sử dụng, trong đó đã xác định được:
Lần thứ nhất: Ngày 07/12/2023, T liên hệ qua mạng xã hội Zalo yêu cầu Đ đến nhà T tại số A C, phường A, thành phố V lấy gói ma túy khay để ở gốc cây trước nhà đem đi bán cho khách tại khu vực đường T, thành phố V. Sau khi có ma túy, Đ đến địa điểm hẹn và để gói ma túy ở gốc cây ven đường rồi liên hệ qua mạng xã hội Z thông báo cho T biết rồi đi về nhà T và được T cho 400.000 đồng.
Lần thứ hai: Ngày 11/12/2023, T liên hệ qua mạng xã hội Zalo yêu cầu Đ đến nhà T lấy gói ma túy khay để ở gốc cây trước nhà đem đi bán cho khách tại khu vực đường T, thành phố V. Sau khi có ma túy, Đ đến địa điểm hẹn và để gói ma túy ở gốc cây ven đường rồi liên hệ qua mạng xã hội Z thông báo cho T biết rồi đi về nhà T và được T cho 400.000 đồng.
Khoảng 22h00' ngày 14/12/2023, T và Đ ăn tối cùng với hai người bạn của T tên T2, H. T hỏi Đ có sử dụng ma túy không thì về nhà T trước, T đã bỏ ma túy đá vào trong nỏ thủy tinh để trên bàn trong phòng ngủ tầng 1. Đ điều khiển xe máy về nhà ở của T trước. Khoảng 02h00' ngày 15/12/2023, Đ lấy nỏ thủy tinh bên trong có ma túy đá để sử dụng, thì phát hiện lực lượng công an đến nên đã điện thoại và nhắn tin qua mạng xã hội Zalo cho T hỏi có mở cửa không, T nhắn lại yêu cầu Đ không mở cửa. Đ để nỏ thủy tinh bên trong có ma túy đá xuống nền phòng gần vị trí Đ ngồi thì bị Công an bắt quả tang đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tang vật.
- Lời khai của Nguyễn Minh T: Ban đầu T khai nhận T là người sử dụng chất ma túy. Để có tiền tiêu xài cá nhân, đầu tháng 12/2023 T nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. T trực tiếp liên hệ mua ma túy từ một người phụ nữ tên H3 (không rõ nhân thân, lai lịch) về phân chia thành nhiều gói nhỏ và tìm người mua ma túy. T nhờ Nguyễn Văn Đ giúp T bán ma túy cho người khác. Đ được T cho tiền, ma túy sử dụng, cụ thể:
Lần thứ nhất: Tháng 10/2023, T liên hệ người phụ nữ tên H3 qua điện thoại hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy đá. T gửi tiền qua dịch vụ xe khách tuyến thành phố V đi Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó H3 gửi 01 gói ma túy cho T qua dịch vụ xe khách tuyến ngược lại. Sau khi nhận được ma túy, T và Đ lấy ma túy bỏ vào nỏ thủy tinh sử dụng, số ma túy còn lại trong gói nylon T đem đi cất giấu. Đầu tháng 12/2023, Đ gặp T nói có người đàn ông tên Út H4 hỏi mua một gói ma túy đá với giá 1.800.000 đồng thì T lấy đưa cho Đ gói ma túy trên, Đ đem đi bán và đưa cho T số tiền 1.800.000 đồng.
Lần thứ hai: Ngày 12/12/2023, T liên hệ người phụ nữ tên H3 qua điện thoại hỏi mua 70.000.000 đồng ma túy gồm 350 viên ma túy thuốc lắc, 100 gam ma túy đá, 20 gam ma túy khay. T gửi tiền qua dịch vụ xe khách tuyến thành phố V đi Thành phố Hồ Chí Minh cho H3 trước 35.000.000 đồng; sau khi nhận được ma túy, T gửi 35.000.000 đồng mua ma túy còn lại cho H3 qua dịch vụ xe khách tuyến thành phố V đi Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 14/12/2023, sau khi cùng ăn tối xong, Thỏi Đ có sử dụng ma túy không thì về nhà T trước, T đã bỏ ma túy đá vào trong nỏ thủy tinh được để trên bàn trong phòng ngủ tầng 1. Đ đồng ý và đi về nhà T tại số A đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để sử dụng ma túy. Sau đó T biết tin Đ bị công an bắt nên đã bỏ trốn (BL 262-268).
Nhưng từ ngày 28/02/2024 đến nay T thay đổi lời khai, cho rằng 04 gói ma túy loại Methamphetamine là của T; còn 02 gói ma túy loại Ketamine và 350 viên nén là chất ma túy, loại MDMA là của người khác (BL269-271, 136-138). Tuy nhiên, việc thay đổi lời khai của T là không có cơ sở, kết quả điều tra đã có đầy đủ căn cứ xác định toàn bộ số ma túy thu giữ được vào ngày 15/12/2023 tại nhà T là của T mua lai của người khác để sử dụng và bán lại kiếm lời.
Bản Kết luận giám định số 15/KL-KTHS-MT ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận về đối tương giám định:
Mẫu A1 (chất kết tinh không màu trong suốt thu giữ được trong nỏ thủy tinh T cho Đ sử dụng) có khối lượng: 0,2720 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Mẫu A2 (150 viên nén hình bầu dục, màu xám trắng có in hình “vương miện” trên một bề mặt) có khối lượng: 55,7953 gam, là chất ma túy, loại MDMA.
Mẫu A3 (200 viên nén màu tím, hình dạng con bướm) có khối lượng: 77,2820 gam, là chất ma túy, loại MDMA.
Mẫu A4 (02 gói nylon hàn kín chứa chất rắn màu trắng) có khối lượng: 3,6422 gam, là chất ma túy, loại Ketamine.
Mẫu A5 (04 gói nylon hàn kín chứa chất rắn màu trắng) có khối lượng: 117,6366 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.
* Vật chứng:
Đã chuyển Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bảo quản, chờ xử lý gồm:
- Một phong bì được niêm phong vụ số 15/1 ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, là phong bì niêm phong đựng chất ma túy sau giám định.
- Một phong bì được niêm phong vụ số 15/2 ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, là phong bì niêm phong đựng chất ma túy sau giám định.
- Một điện thoại di động Samsung màu xanh đen, Imei: 359093385737335 đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn Đ dùng để liên lạc, trao đổi trong việc mua bán chất ma túy.
- Một điện thoại di động N màu xanh đen, nứt bể phía sau, Imei: 357751107644566 đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Minh T dùng để liên lạc, trao đổi trong việc mua bán chất ma túy.
* Vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên H3 là người bán ma túy cho T; các đối tượng tên Út H4 và những người mua ma túy của T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã tiến hành điều tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch. Ngày 09/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số: 600/QĐ-CSMT để tiếp tục xác minh, khi có căn cứ thì xử lý sau.
Đối với số ma túy trong nỏ thủy tinh: là ma túy T trả công cho Đ do Đ đã bán ma túy giúp T. Khi về nhà T trước, Đ đi ngủ mà không lấy số ma túy này sử dụng. Khi bị kiểm tra thì Đ đã cất giấu. Do đó, Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; còn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với khối lượng ma túy này và không có căn cứ xử lý về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Tại Cáo trạng số 95/CT-VKS-P1 ngày 20 tháng 6 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Theo đó, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Trong bản luận tội, vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, các điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 20 (Hai mươi) năm tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (Một) - 02 (H4) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (T3) - 09 (C) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành cho cả hai tội; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
4. Tranh luận và đối đáp tại phiên toà:
4.1. Luật sư Nguyễn Bá Đ2 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh T:
Nhất trí về tội danh, Điều khoản truy tố, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đại diện Viện Kiểm sát đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ bổ sung: phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại bởi vì lượng ma tuý thu giữ tại nhà bị cáo T gần như toàn bộ và tương đương lượng ma tuý bị cáo đã mua, có khả năng bị cáo chỉ mới giao cho bị cáo Đ đi bán 02 lần đúng như cáo trạng mô tả; áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: bị cáo có con 02 tuổi và hiện đã ly hôn vợ, để quyết định mức hình phạt nhẹ thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
4.2. Luật sư Trần Đức H2 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh T:
Nhất trí về tội danh, Điều khoản truy tố, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đại diện Viện Kiểm sát đề nghị; nhất trí với nội dung bào chữa của Luật sư Nguyễn Bá Đ2 cho bị cáo Nguyễn Minh T.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng bổ sung tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T: Hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, cha bị ung thư mới mổ năm ngoái, mẹ bị bệnh tiểu đường, phụng dưỡng bà nội già yếu trong nhà, ly hôn vợ, nuôi con nhỏ; để quyết định cho bị cáo mức án khoan hồng.
4.3. Bị cáo Nguyễn Minh T nhất trí với bào chữa của Luật sư, không bào chữa, tranh luận bổ sung.
4.4. Bị cáo Nguyễn Văn Đ không có ý kiến bào chữa, tranh luận.
4.5. Đại diện Viện Kiểm sát không có ý kiến đối đáp, đề nghị Hội đồng cân nhắc xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo đề nghị của Luật sư, không có ý kiến về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; giữ nguyên quan điểm truy tố, mức án đề nghị.
4.6. Các bị cáo không có ý kiến gì thêm; nói lời sau cùng thể hiện sự ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình, người thân, chăm sóc gia đình, làm công dân tốt có ích cho xã hội.
5. Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người chứng kiến, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Để có ma túy sử dụng và tiền tiêu xài cá nhân, từ đầu tháng 12/2023 Nguyễn Minh T nảy sinh ý định mua ma túy của người khác về để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. T trực tiếp liên hệ mua ma túy về phân chia thành nhiều gói nhỏ để bán cho người mua ma túy thông qua Nguyễn Văn Đ. T đã mua ma túy của người phụ nữ tên H3 được hai lần. Nguyễn Văn Đ đã nhiều lần giúp T bán ma túy cho người khác để được T trả tiền công và cho ma túy sử dụng. Cơ quan điều tra đã khám xét và thu giữ tại nhà của T: 0,2720 gam ma túy Methamphetamine chứa trong nỏ thủy tinh T cho Đ sử dụng; 133,0773 gam ma túy MDMA trong 350 viên nén, 3,6422 gam ma túy Ketamine; 117,6366 gam ma túy Methamphetamine là ma tuý T tàng trữ để bán cho các con nghiện.
Nguyễn Minh T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với lượng ma tuý gồm: 133,0773 gam MDMA; 117,9086 gam Methamphetamine và 3,6422 gam Ketamine.
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, đúng như nội dung truy tố, rút một phần nội dung truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy, các chất gây nghiện, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, tiềm ẩn nguy cơ gây nên những hậu quả khó lường cho xã hội, cộng đồng và bản thân, gây tâm lý bất ổn trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người đã trưởng thành nhận thức được tác hại của ma tuý đối với sức khỏe của con người và những ảnh hưởng tiêu cực mà ma túy gây ra cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội; biết rõ hành vi liên quan đến việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện để nhận quyền lợi vật chất thoả mãn nhu cầu của bản thân, cố tình vi phạm pháp luật.
Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Tái phạm nguy hiểm”, là tình tiết tăng nặng theo quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Cần tuyên tịch thu, tiêu huỷ 02 (Hai) phong bì được niêm phong vụ số 15/1, 15/2 ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, đựng chất ma túy còn lại sau giám định;
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Samsung màu xanh đen, Imei: 359093385737335, thu giữ của Nguyễn Văn Đ; 01 (Một) điện thoại di động Nokia màu xanh đen, I: 357751107644566 phía sau bị nứt bể, thu giữ của Nguyễn Minh T là phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc, trao đổi thông tin mua bán ma túy.
[6] Các vấn đề liên quan:
Đối tượng tên H3 là người bán ma túy cho bị cáo T, các đối tượng tên Út H4 và những người mua ma túy của bị cáo T: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành điều tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lại lịch, nên có Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 600/QĐ-CSMT ngày 09/5/2024 để tiếp tục xác minh, sẽ xử lý theo quy định pháp luật khi có kết quả là đúng.
Đối với số ma túy trong nỏ thủy tinh: là ma túy T trả công cho Đ do Đ đã bán ma túy giúp T. Khi về nhà T trước, Đ đi ngủ mà không lấy số ma túy này sử dụng; bị kiểm tra, phát hiện khi đang cất giấu nên Viện Kiểm sát không truy tố Nguyễn Minh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1.1. Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, các điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 20 (Hai mươi) năm tù, tính từ ngày 21/02/2024.
1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 08 (T3) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành là 09 (Chín) năm tù, tính từ ngày 15/12/2023.
2. Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) phong bì được niêm phong vụ số 15/1, 15/2 ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, chứa ma túy còn lại sau giám định;
2.2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Samsung màu xanh đen, Imei: 359093385737335; 01 (Một) điện thoại di động Nokia màu xanh đen, I: 357751107644566 phía sau bị nứt bể.
Toàn bộ vật chứng hiện đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Biên bản giao nhận vật chứng số 80/BB-CTHADS ngày 26/6/2024.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn Đ nộp mỗi người 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (07/8/2024), các bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 90/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T
