Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/KDTM-ST

Ngày: 07/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hiếu Thuận

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Duy Thanh Tùng
  2. Bà Phạm Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Phi Yến - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gấm - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2022/TLST-KSTM ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-KDTM ngày 27 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2024/QĐST-KDTM ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đ

Địa chỉ: Số C, đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc H - Giám đốc (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Bà Trần Thị Nguyệt L (có mặt) (Theo giấy uỷ quyền ngày 03/8/2022)
  2. Ông Nguyễn Tấn D (vắng mặt)
  3. Bà Đặng Thị Thanh T (có mặt) (Theo giấy uỷ quyền ngày 20/7/2022)

Cùng địa chỉ: Số C, đường C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1

Địa chỉ: Số C, đường P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh D1 - Giám đốc (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Xuân H1 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số I, đường P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

(Theo giấy ủy quyền ngày 02/10/2023)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 08/8/2022, bản tự khai và các biên bản hòa giải, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:

Ngày 22/01/2018, nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty R) và bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 (Công ty L1) ký Hợp đồng cung cấp thiết bị điều hòa không khí số 002/KDDA2018 (gọi tắt là Hợp đồng 002) cho Công trình Bảy Hiền Tower tại I P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Dự án) theo Báo giá BG02BDA18 ngày 03/01/2018 của Công ty R. Giá trị Hợp đồng 002 là 2.491.515.563 đồng. Theo nội dung hợp đồng, Công ty R có nghĩa vụ cung cấp các thiết bị, vật tư của hệ thống thiết bị điều hòa không khí của Dự án cho Công ty L1; Công ty L1 có nghĩa vụ tạm ứng cho REE 25% giá trị hợp đồng (tương đương 622.878.891 đồng) sau khi ký hợp đồng, 75% giá trị hợp đồng còn lại Công ty L1 có nghĩa vụ thanh toán chậm nhất đến ngày 31/3/2018.

Ngày 29/3/2018, sau khi nhận được số tiền tạm ứng của Công ty L1, Công ty R đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng. Công ty L1 đã đưa vào sử dụng. Đồng thời, các bên cũng đã tiến hành quyết toán hợp đồng, khối lượng quyết toán đúng bằng giá trị hợp đồng 002 là 2.491.515.563 đồng; Công ty R đã xuất đầy đủ các hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty L1 theo thỏa thuận của hợp đồng đã ký.

Ngày 06/4/2018, hai bên ký kết Phụ lục Hợp đồng 002 điều chỉnh thời hạn thanh toán. Theo đó, việc thanh toán được chia thành 02 đợt, cụ thể:

- Đợt 1: 25% giá trị hợp đồng, tương ứng với số tiền 622.878.891 đồng (đã được thanh toán ngày 09/3/2018)

- Đợt 2: 75% giá trị hợp đồng, tương ứng với số tiền 1.868.636.672 đồng sẽ được thanh toán chậm nhất đến ngày 05/5/2018.

Như vậy, Công ty L1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền 1.868.636.672 đồng chậm nhất đến ngày 05/5/2018. Tuy nhiên, Công ty L1 đã nhiều lần có công văn xin gia hạn thời hạn thanh toán khoản nợ, hứa hẹn, cam kết lộ trình thanh toán nhưng đều không thực hiện và cho đến nay Công ty L1 chưa thanh toán hết khoản nợ cho Công ty R.

Ngày 31/10/2020, Công ty R và Công ty L1 đã ký biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ của Hợp đồng 002. Theo đó, Công ty L1 xác nhận còn nợ Công ty R số tiền là 1.818.636.672 đồng.

Công ty R đã nhiều lần gửi văn bản, công văn, thư nhắc nợ cho Công ty L1 để nhắc nhở, đôn đốc và yêu cầu nhanh chóng thanh toán toàn bộ số tiền còn lại của Hợp đồng 002 cho Công ty R. Đồng thời, Công ty R cũng đã thiện chí nhiều lần gia hạn thời gian thanh toán nhưng mãi đến ngày 05/02/2021, Công ty L1 mới chỉ thanh toán thêm số tiền 50.000.000 đồng. Số tiền còn lại Công ty L1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty R là 1.768.636.672 đồng.

Do Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng 002/KDDA2018 nên Công ty Cổ phần R khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2 cho Công ty Cổ phần R tổng số tiền là 2.732.750.086 đồng, bao gồm số tiền nợ gốc của Hợp đồng 002 là 1.768.636.272 đồng và tiền lãi chậm thanh toán tính theo lãi suất 9%/năm trên số tiền chậm thanh toán là 964.113.814 đồng (tạm tính từ ngày 05/5/2018 đến ngày 26/3/2024).

Đối với Hợp đồng mua bán căn hộ số 004/2018/HĐMB-BHT (BH 21.05) ký ngày 22/01/2018 và Phụ lục hợp đồng này ký ngày 12/03/2018 về việc mua bán căn hộ giữa bị đơn và nguyên đơn. Thực tế, hai bên có ký hợp đồng để Công ty L1 thế chấp tài sản là căn hộ BH 21.07, loại căn hộ D1, tầng 21, diện tích sử dụng 177.01 m² bảo đảm nghĩa vụ thanh toán cho Hợp đồng 002, không phải mua bán căn hộ. Sau khi ký hợp đồng, các bên cũng không thực hiện bất cứ thủ tục nào để đăng ký quyền sở hữu căn hộ và thanh toán cấn trừ nợ, cũng không thực hiện thủ tục đăng ký biện pháp giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, trong việc giải quyết vụ án này, nguyên đơn đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết đối với Hợp đồng 004/2018/HĐMB-BHT (BH 21.05) mà Công ty L1 đã ký với nguyên đơn trong vụ án tranh chấp nêu trên. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 26/3/2024 thì nguyên đơn không đề cập yêu cầu Tòa án giải quyết đối với nội dung nêu trên.

* Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến và trình bày nêu trên, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn nợ chưa thanh toán theo Hợp đồng số 002/KDDA2018 là 1.768.636.272 (một tỷ bảy trăm sáu mươi tám triệu sáu trăm ba mươi sáu nghìn hai trăm bảy mươi hai) đồng và tiền lãi tính theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định là 9%/năm trên số tiền chậm thanh toán (tạm tính từ ngày 06/5/2018 đến ngày 07/5/2024) là 967.426.086 (chín trăm sáu mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn không trăm tám mươi sáu) đồng. Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là 2.736.062.358 (hai tỷ bảy trăm ba mươi sáu triệu không trăm sáu mươi hai nghìn ba trăm năm mươi tám) đồng, yêu cầu trả hết khi án có hiệu lực pháp luật.

Đồng thời, nguyên đơn cũng trình bày thêm: Nguyên đơn đã giao hết toàn bộ số hàng trên cho Bị đơn làm 03 đợt theo các biên bản giao nhận hàng ngày 18/3/2018; ngày 20/3/2018; ngày 21/3/2018.

Đối với Hợp đồng mua bán căn hộ số 004/2018/HĐMB-BHT ký ngày 22/01/2018 và Phụ lục Hợp đồng này ký ngày 12/3/2018 về việc mua bán căn hộ giữa nguyên đơn và bị đơn. Phía nguyên đơn xác định từ khi khởi kiện đến phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với Hợp đồng mua bán căn hộ nêu trên, nguyên đơn sẽ yêu cầu sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, khi bị đơn không thanh toán hết nợ.

Theo phần trình bày của bị đơn, thì phía nguyên đơn xác định căn cứ các chứng cứ, tài liệu là văn bản yêu cầu gia hạn thời hạn thanh toán nợ của bị đơn và biên bản đối chiếu công nợ thì trách nhiệm thanh toán nợ là Công ty L1. Doanh nghiệp tư nhân X không phải chủ thể giao kết, ký kết Hợp đồng nên không có phát sinh quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến yêu cầu khởi kiện tranh chấp, nguyên đơn không yêu cầu Doanh nghiệp tư nhân X có nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án với tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

* Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 có bà Đinh Xuân H1 là đại diện theo ủy quyền có nộp bản tự khai trình bày ý kiến:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 thừa nhận về việc ký kết và thực hiện hợp đồng số số 002/KDDA2018 ngày 22/01/2018 với Công ty Cổ phần Đ. Theo đó, Công ty L1 đã thanh toán số tiền tạm ứng đợt 01 theo thỏa thuận ngày 09/3/2018 là 622.878.891 đồng. Tuy nhiên, đến ngày 29/3/2018 thì Công ty R mới giao hàng xong.

Nguyên nhân bị đơn chưa thanh toán là: Theo Quyết định phê duyệt dự án số 03/QĐ-SXD-PTN năm 2009 thì Tòa nhà chung cư T P, Phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh của Chủ đầu tư dự án là Doanh Nghiệp Tư Nhân X. Ủy ban nhân dân Thành phố H chưa chấp thuận thay đổi Chủ đầu tư cho đơn vị khác. Do đó, khi hệ thống máy lạnh do bên bán lắp đặt tại Tòa nhà chung cư còn thiếu một số thiết bị điều khiển trung tâm, bên bán chưa bàn giao nên Chủ đầu tư chưa có cơ sở vận hành thiết bị.

Theo thỏa thuận tại 4.2 Điều IV của Hợp đồng : Bên B giao hàng cho bên A trong vòng 03 ngày kể từ ngày tạm ứng đợt 1. Công ty L1 tạm ứng ngày 09/03/2018 nhưng đến ngày 29/03/2018 mới giao hàng xong. Do đó, bên bán đã vi phạm hợp đồng và phải chịu phạt vi phạm theo thỏa thuận tại Khoản 8.1 Điều VIII của Hợp đồng.

Bị đơn không đồng ý đối với yêu cầu tính lãi suất trên khoản nợ vì phía nguyên đơn sản phẩm chưa được Chủ đầu tư dự án chung cư S P, Phường A, Quận T nghiệm thu đưa vào sử dụng. Bên nguyên đơn chưa bàn giao quyền sở hữu, quyền sử dụng toàn bộ thiết bị dẫn đến việc thiết bị chưa vận hành được. Đề nghị Tòa án đưa DNTN Xây dựng Thương mại X (Chủ đầu tư) tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị đơn yêu cầu nguyên đơn bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm do vi phạm khoản 8.1 Điều VIII của hợp đồng số 002, giao hàng trễ 16 ngày so với thỏa thuận, mức phạt là 10% trên tổng giá trị hợp đồng, cụ thể là 249.151.556 đồng; Yêu cầu nguyên đơn nghiệm thu bàn giao toàn bộ thiết bị, phụ kiện vận hành hệ thống điều hòa cho Chủ đầu tư khai thác sử dụng.

Đồng thời, phía bị đơn có đơn yêu cầu phản tố ngày 02/10/2024 theo nội dung trình bày và yêu cầu nêu trên.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phần tranh tụng tại phiên tòa đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần Đ tổng số tiền là 2.736.062.358 (hai tỷ bảy trăm ba mươi sáu triệu không trăm sáu mươi hai nghìn ba trăm năm mươi tám) đồng, trong đó số tiền nợ gốc của Hợp đồng 002 là 1.768.636.272 (một tỷ bảy trăm sáu mươi tám triệu sáu trăm ba mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi hai) đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 967.426.086 (chín trăm sáu mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn không trăm tám mươi sáu) đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Công ty Cổ phần Đ và Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 có xác lập giao dịch mua bán hàng hóa, do bị đơn không thực hiện đúng theo thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ khoản 1 Điều 4 Luật Thương mại; khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa 2 bên là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

Nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1. Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 có địa chỉ trụ sở tại số C, đường P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 là tổ chức, doanh nghiệp đang thực hiện hoạt động kinh doanh, chưa đăng ký thủ tục giải thể và có người đại diện theo ủy quyền là bà Đinh Xuân H1. Do đó, các văn bản tố tụng của Tòa án được tống đạt cho người đại diện theo ủy quyền của bị đơn theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải lần 1 ngày 12/01/2024, lần 2 ngày 26/3/2024 cho bà Đinh Xuân H1. Tuy nhiên, do vắng mặt tại các phiên họp nên Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp ngày 26/3/2024 cho bà Đinh Xuân H1. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho người đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Tại phiên tòa ngày 16/4/2024, đương sự vắng mặt. Tòa án đã tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ cho đương sự, nhưng tại phiên tòa ngày 07/5/2024 đương sự vắng mặt. Do vậy, việc xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[3] Về pháp luật nội dung được áp dụng:

Theo Hợp đồng cung cấp thiết bị số 002/KDDA2018 ngày 22/01/2018 được xác lập giữa Công ty Cổ phần Đ và Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1, hai bên xác định mục đích ký kết hợp đồng để mua bán hàng hóa, nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh và các bên đều là chủ thể của quan hệ kinh doanh, thương mại; quan hệ tranh chấp giữa hai bên được xác định là quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại để giải quyết tranh chấp giữa các bên.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Xét Hợp đồng cung cấp thiết bị số 002/KDDA2018 ngày 22/01/2018 giữa Công ty Đ và Công ty L1, Hội đồng xét xử xét thấy giữa Công ty R và Công ty L1 có giao dịch hợp đồng mua bán hàng hóa, Công ty R đã cung cấp, vận chuyển hàng hóa cho Công ty L1, số tiền hàng hóa theo hợp đồng là 2.491.515.563 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã tiến hành cung cấp các thiết bị, vật tư của hệ thống thiết bị cho Dự án, có ký biên bản giao nhận hàng. Ngày 09/3/2018, Công ty TNHH L1 đã thanh toán tạm ứng cho nguyên đơn 622.878.891 đồng. Đến ngày 21/03/2018, nguyên đơn đã hoàn thành xong nghĩa vụ giao hàng của mình theo đúng yêu cầu về khối lượng, chất lượng và tiến độ của Họp đồng 002, Công ty L1 đã đưa vào sử dụng. Đồng thời, các bên cũng đã tiến hành quyết toán hợp đồng, khối lượng quyết toán đúng bằng giá trị Hợp đồng 002 (là 2.491.515.563 đồng). Công ty Cổ phần Đ cũng đã xuất các hoá đơn số AT/18T.0000218 vào ngày 20/3/2018, số tiền đề nghị thanh toán là 1.942.614.300 đồng và hóa đơn số AT/18T.0000505 ngày 29/3/2018, số tiền đề nghị thanh toán là 548.901.253 đồng.

Theo Phụ lục hợp đồng số 002 ngày 06/4/2018 thì các bên có thỏa thuận điều chỉnh thời hạn thanh toán chia thành 02 đợt:

Đợt 1: 25% giá trị hợp đồng, tương ứng số tiền 622.878.891 đồng (đã được thanh toán ngày 09/3/2018)

Đợt 2: 75% giá trị hợp đồng, tương ứng với 1.868.636.672 đồng sẽ được thanh toán chậm nhất đến ngày 05/5/2018. Tuy nhiên, Công ty L3 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng thỏa thuận hợp đồng và phụ lục hợp đồng.

Phía nguyên đơn đã nhiều lần gửi các văn bản (các Công văn số 0407/PDA 2018 ngày 04/7/2018, số 2504/PDA 2019 ngày 25/4/2019, số 0508/PDA 2019 ngày 05/8/2019 và T1 nhắc nợ ngày 05/4/2022) cho Công ty L1 để nhắc nhở, đôn đốc và yêu cầu Công ty L1 nhanh chóng thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ của Hợp đồng 002 cho nguyên đơn. Đồng thời, cũng đã thiện chí nhiều lần gia hạn thời gian thanh toán cho Công ty L1, nhưng mãi đến ngày 05/01/2021, Công ty L1 mới chỉ thanh toán số tiền 50.000.000 đồng. Phía bị đơn thừa nhận các khoản nợ chưa thanh toán cho nguyên đơn và đã có các công văn xin gia hạn thời hạn thanh toán cụ thể:

  • Số A.CV/2018/LHP ngày 05/5/2018: gia hạn thời hạn thanh toán đến 15/6/2018
  • Số 036CV/2018/LHP ngày 21/7/2018: gia hạn thời hạn thanh toán đến 31/8/2018
  • Số 004CV/2019/LHP ngày 21/01/2019: cam kết thanh toán Đợt 1 là 500.000.000 đồng vào ngày 31/01/2019 và Đợt 2 là 1.368.636.672 đồng vào ngày 15/3/2019
  • Số 030CV/2019/LHP ngày 21/6/2019: cam kết thanh toán Đợt 1 là 500.000.000 đồng vào ngày 07/7/2019, nhưng chỉ mới thanh toán thêm 50.000.000 đồng
  • Số 011CV/2020/LHP ngày 14/7/2020 cam kết thanh toán dứt điểm công nợ vào 31/10/2020

Đến ngày 31/12/2020, giữa nguyên đơn và bị đơn có ký biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ của Hợp đồng số 002/KDDA2018. Ngày 05/01/2021, phía bị đơn chỉ mới thanh toán số tiền 50.000.000 đồng, còn nợ lại 1.768.636.672 đồng chưa thanh toán.

Việc Công ty Cổ phần Đ và Công ty TNHH L1 ký kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, có mục đích và nội dung phù hợp với các quy định pháp luật. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng mua bán nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 1.768.636.272 đồng là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo các văn bản cung cấp thông tin lãi suất của các Ngân hàng:

  • Công văn số 3048/HCM-TH ngày 26/3/2024 của Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh Thành phố H thì lãi suất cho vay trung hạn là 10,5%;
  • Công văn số 405/CV-CN12-TH ngày 05/4/2024 của Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh A Thành phố Hồ Chí Minh thì lãi suất vay tiền 6 tháng đến 12 tháng là 9,5%/năm, trung, dài hạn 12,5%/năm.
  • Công văn số 533/NHNoTB-KH&QLRR ngày 22/3/2024 của Ngân hàng N2 - Chi nhánh T2 thì lãi suất trung, dài hạn là 9%/năm.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng N quy định về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm.

Do đó, đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán của nguyên đơn, yêu cầu buộc bị đơn thanh toán số tiền lãi 967.426.086 đồng, tương ứng với mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng N là 9%/năm do bị đơn vi phạm nghĩa vụ nghĩa vụ thanh toán là phù hợp với Điều 306 Luật Thương mại, phù hợp với quy định của pháp luật và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tiền lãi được tính như sau:

- Từ ngày 06/5/2018 đến ngày 05/02/2021: (1.818.636.272 x 9%/năm) x 32 tháng 29 ngày = 449.657.818 đồng.

- Từ ngày 06/02/2021 đến ngày 07/5/2024: (1.768.636.272 x 9%/năm) x 39 tháng 01 ngày = 517.768.268 đồng.

Tổng số tiền vốn và lãi Công ty TNHH L1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần Đ là : 1.768.636.672 + (449.657.818 + 517.768.268) = 2.736.062.358 (hai tỷ bảy trăm ba mươi sáu triệu không trăm sáu mươi hai nghìn ba trăm năm mươi tám) đồng.

Trả hết khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đối với Hợp đồng 004/2018/HĐMB-BHT ký ngày 22/01/2018 và Phụ lục Hợp đồng này ký ngày 12/3/2018, phía nguyên đơn từ khi khởi kiện đến ngày xét xử vẫn không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết và không đề cập trong bản án.

Theo lời khai của bị đơn thì nguyên đơn nêu ý kiến cho rằng Doanh nghiệp tư nhân X không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy, việc ký kết hợp đồng cung cấp thiết bị số 002/KDDA2018 thì các chủ thể xác lập, ký kết hợp đồng là Công ty R và Công ty L1, bị đơn có các văn bản thừa nhận nợ và gia hạn thời gian thanh toán và biên bản đối chiếu công nợ đã thể hiện rõ trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán nợ cho nguyên đơn là bị đơn, không liên quan đến trách nhiệm và nghĩa vụ gì khác đối với Doanh nghiệp tư nhân X. Hội đồng xét xử xét thấy, Doanh nghiệp tư nhân X không có trách nhiệm, nghĩa vụ liên quan đến yêu cầu khởi kiện tranh chấp của nguyên đơn nên không triệu tập tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[5] Xét ý kiến của bị đơn:

Theo phần trình bày ý kiến và nội dung yêu cầu phản tố theo đơn yêu cầu phản tố ngày 02/10/2023 của bị đơn. Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo đóng tạm ứng án phí đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, bị đơn đã nhận và không thực hiện đóng tạm ứng án phí đối với yêu cầu phản tố của mình nên Hội đồng xét xử không có xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn.

[6] Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên đã phát biểu tại phiên tòa về việc buộc bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc của Hợp đồng 002 và tiền lãi do chậm thanh toán cho nguyên đơn.

[7] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí, bị đơn phải chịu số tiền án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật là 86.721.247 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 244; khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 385, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 306 Luật thương mại 2005;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ.

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 có nghĩa vụ thanh toán cho đơn Công ty Cổ phần Đ tổng số tiền là 2.736.062.358 đồng (hai tỷ bảy trăm ba mươi sáu triệu không trăm sáu mươi hai nghìn ba trăm năm mươi tám) đồng (trong đó có số tiền nợ gốc của hợp đồng 002/KDDA2018 ngày 22/01/2018 là 1.768.636.272 đồng, và số tiền lãi do chậm thanh toán là 967.426.086 đồng), trả hết khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.

3. Các quyền và nghĩa vụ của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1 phải chịu 86.721.247 đồng (tám mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn hai trăm bốn mươi bảy) đồng án phí sơ thẩm.

H2 lại cho Công ty Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 41.405.410 (bốn mươi mốt triệu bốn trăm lẻ năm nghìn bốn trăm mười) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0032077 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q.Tân Bình;
  • - Chi cục THADS Q. Tân Bình;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hiếu Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/KDTM-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 90/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger