TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/DS - ST
Ngày: 07/8/2024.
V/v: “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Ngọc Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Minh Tư.
2. Ông Trần Tất Linh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06, 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2023/TLST - DS ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST - DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trần Văn B - Sinh năm: 1963 và bà Nguyễn Ngọc S - Sinh năm: 1964; địa chỉ: số H ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N - Sinh năm: 1964; địa chỉ: 2 ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre, có mặt.
* Bị đơn: Ông Trần Văn C - Sinh năm: 1965; địa chỉ: ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lê Thị Thanh N1 - Sinh năm: 1990; địa chỉ: B ấp M, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị S1 - Sinh năm: 1965; địa chỉ: ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn và người đại diện trình bày:
Ông Trần Văn B và bà Nguyễn Ngọc S sở hữu và đứng tên phần đất 312 tờ bản đồ số 08 tọa lạc tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 322,4m².
Phần đất này có nguồn gốc là cha mẹ ông B cho năm 1996 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 01/4/1997. Tại thời điểm này ông được cha mẹ cho 03 thửa đất gồm thửa 114, 115 và 123 (thửa tranh chấp).
Trước đây ông có khoản 01 công đất ruộng. Sau này cha ông cần tiền nên mượn công đất này bán và có hứa sẽ trả lại bằng công đất khác. Tuy nhiên, cha ông chỉ cho lại ông thửa 123 điện tích 280m². Năm 1992 ông canh tác (trồng dâu) trên đất, đến năm 1997 dâu bán không được giá nên đốn bỏ dâu, để đất lại cho cha canh tác và đi tỉnh Đồng Tháp làm thuê.
Sau khi cha ông chết (năm 2006) thì ông C cho rằng mua của cha ông phần đất này với giá 1,5 chỉ vàng 24kra và đã giao tiền xong. Lúc này cha mới chết nên ông cũng không nói gì (cha, mẹ sống chung với ông C).
Năm 2011, khi Vlap đo đạc thì cũng thể hiện là ông có phần đất này. Sau khi có kết quả đo đạc thì ông có liên hệ ông C đòi lại đất nhưng không được.
Năm 2018, khi ông C xây hàng rào thì ông có ý định ngăn cản. Nhưng do lúc này ông C là trưởng ấp nên ông sợ là mất mặt ông C và sợ có sô sát nên ông để cho ông C xây hàng rào.
Năm 2022 ông C kê khai phần đất này nhưng không được. Ông có nghe người khác nói lại là ông C muốn mua lại đất.
Trong đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu ông Trần Văn C trả lại phần đất là thửa 312 tờ bản đồ số 08 diện tích khoảng 322,4m² tọa lạc tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Đối với cây trồng, công trình hàng rào mà ông C xây dựng thì ông yêu cầu ông C tự đốn, chặt, tháo dỡ di dời. Nguyên đơn không bồi thường.
Đối với việc trên đất có con đường bê tông mời làm thì đây là chính sách của địa phương, ông không có ý kiến gì. Đất còn lại bao nhiêu thì ông C trả lại bấy nhiêu.
Tại phiên tòa, nguyên đơn đồng ý chỉ tranh chấp phần diện tích 280,3m² (ký hiệu 1, 2, 3, 4, 8) trong họa đồ đo đạc. Phần diện tích 42,1m² (ký hiệu 5,6,7) trong họa đồ đo đạc thì nguyên đơn không tranh chấp, đồng ý đây là thuộc thửa 281 của ông C.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn và người đại diện trình bày:
Về quan hệ thì ông B là anh ruột ông C. Phần đất tranh chấp là của cha mẹ (ông Trần Văn K (đã chết) và bà Huỳnh Thị L (lớn tuổi, không còn biết gì).
Khoảng năm 1978 cha mẹ cho ông Trần Văn N2 (anh của ông B và ông C) thửa đất trong đó có phần đất tranh chấp. Năm 1991 ông N2 bán 01 phần cho bà P (phần bên kia lộ) chừa lại 01 bờ (phần hiện nay tranh chấp).
Ông N2 canh tác đến năm 1997 thì mua đất sống ở chỗ khác (ấp P, xã V) nên bán phần này lại cho ông C với giá 02 chỉ vàng 24kra và 200.000đồng.
Từ năm 1997 thì ông C canh tác. Cây là do ông C trồng, công trình là ông C xây. Bị đơn không biết gì lý do gì mà phía ông B đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến khi đo đạc theo Vlap thì ông C mới biết việc ông B đứng tên đất. Lúc này 02 bên thống nhất để ông B đứng tên theo đo đạc Vlap. Sau khi có kết quả đo đạc thì làm thủ tục sang tên đất lại cho ông C. Tuy nhiên, sau đó ông B không sang tên đất lại cho ông C.
Nay đối với yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý. Bị đơn canh tác đất, trồng cây, xây công trình đến nay là gần 30 năm. Do vậy, yêu cầu Tòa án xem xét xác định thửa 312 tờ bản đồ số 08 diện tích khoảng 322,4m² tọa lạc tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre là của ông C và để ông C được đứng tên đối với phần đất này.
Đối với việc trên đất có con đường bê tông mời làm thì đây là chính sách của địa phương, ông không có ý kiến gì. Đất còn lại bao nhiêu thì tính bấy nhiêu.
Tại phiên tòa nguyên đơn cũng đồng ý phần diện tích 42,1m² là của thửa 281 của bị đơn nên bị đơn đề nghị Tòa án công nhận thỏa thuận này. Đối với phần đất tranh chấp còn lại diện tích 280,3m² thì đề nghị Tòa án xác định là đất của của bị đơn, để bị đơn được đứng tên đối với phần đất này.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S1 trình bày:
Bà thống nhất trình bày, yêu cầu của ông Trần Văn C. Cây trồng, công trình trên đất của bà và ông C trồng.
Các đương sự đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản đối với phần đất tranh chấp mà không yêu cầu xem xét thẩm định, định giá lại.
Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ghi nhận việc tại phiên tòa nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với 42,1m² đất và thống nhất phần đất này là của thửa 281 của bị đơn.
Bị đơn được quyền sử dụng phần đất còn lại (ký hiệu 1,2,3,4,8) diện tích 280,3m² và phải trả lại cho nguyên đơn 70% giá trị đất theo giá mà Hội đồng định giá đã định là 700.000đồng/m². Giá trị hoàn trả được trừ đi diện tích làm lộ là 102,9m².
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Do các bên tranh chấp và nguyên đơn có đơn khởi kiện, bị đơn có yêu cầu phản tố nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do vậy, việc Tòa án hòa giải vắng mặt bà là phù hợp.
[2] Về nội dung: Các bên tranh chấp đối với phần đất qua đo đạc có diện tích 322,4m² thuộc thửa 312 tờ bản đồ số 08 tọa lạc tại ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre do nguyên đơn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong phần đất này có 42,1m² bị đơn cho rằng thuộc về thửa 281 của bị đơn.
Trên phần đất này có công trình lộ bê tông đang thi công với diện tích lộ là 108,5m².
Trên đất có tài sản như sau:
Công trình:
Hàng rào 1: Trụ đà bê tông cốt thép, tường xây lửng cao nhỏ hơn 0,8m, phía trên kéo lưới B40. Hàng rào có chiều dài 25,65m, cao 2,2m. Diện tích 56,43m². Tỷ lệ chất lượng còn lại là 40%. Có giá trị 23.858.604đồng.
Hàng rào 2 (liên tục với hàng rào 1): Trụ đà bê tông cốt thép, tường xây lửng cao nhỏ hơn 0,8m, phía trên lắp khung sắt hộp. Hàng rào có chiều dài 6,75m, cao 2,2m. Diện tích 14,85m². Tỷ lệ chất lượng còn lại là 40%. Có giá trị 7.413.120đồng.
Cây trồng:
05 cây măng cụt trên 10 năm x 2.200.000đồng/cây = 11.000.000đồng.
05 cây dừa loại 2 x 1.100.000đồng/cây = 5.500.000đồng.
03 cây ca cao loại 2 x 280.000đồng/cây = 840.000đồng.
01 cây vú sữa loại 2 x 990.000đồng/cây = 990.000đồng.
Giá trị đất: 700.000đồng/m² không bao gồm cây trồng trên đất.
Nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp là thuộc quyền sử hữu của nguyên đơn, do nguyên đơn đứng tên nhưng bị đơn canh tác. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại toàn bộ thửa đất này.
Bị đơn cho rằng phần đất này trước đây mua lại từ anh ruột là ông Trần Văn N2 (hiện tại đã chết). Năm 2011, khi đo đạc theo Vlap thì nguyên đơn cũng đồng ý đây là đất của bị đơn và thống nhất khi nào đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới thì sang tên đất lại cho bị đơn. Do vậy, bị đơn đề nghị Tòa án xác định phần đất này là thuộc về bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S1 (vợ ông C) thống nhất trình bày, yêu cầu của ông Trần Văn C.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Tại phiên tòa nguyên đơn thống nhất diện tích thửa 312 có diện tích 280,3m² theo như diện tích được cấp năm 1997 nên HĐXX ghi nhận và làm căn cứ giải quyết vụ án là phù hợp.
Các đương sự thống nhất, phần diện tích 42,1m² (ký hiệu 5, 6, 7) không tranh chấp và thống nhất là thuộc về thửa 281 của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị S1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3.2] Xét thấy, thửa đất tranh chấp còn lại diện tích 280,3m² được cấp giấy CNQSDĐ lần đầu vào ngày 01/4/1997 cho hộ ông Trần Văn B. Đến năm 2012 được cấp đổi thành thửa 312 cho ông Trần Văn B và bà Nguyễn Ngọc S.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cho rằng mình không biết việc nguyên đơn được cấp đất lần đầu năm 1997. Đến năm 2011 thì mới biết và có chứng kiến, ký tên việc đo đạc theo Vlap năm 2011.
Việc bị đơn cho rằng năm 2011 có thỏa thuận ông B đứng tên xong sang lại cho ông C nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh. Trong khi đó căn cứ kết quả đo đạc năm 2011 của V thì bị đơn có ký tên xác nhận ranh đất đối với thửa 312 cho nguyên đơn. Từ đó cho thấy việc cấp đất và cấp đổi phần đất tranh chấp là được thực hiện đúng quy trình.
Đối với lời làm chứng là các chị em, chị dâu của các bên, tại phiên tòa nguyên đơn cũng thừa nhận những người này có mâu thuẫn với nguyên đơn. Do vậy, HĐXXX xét thấy không dùng lời làm chứng này là cơ sở giải quyết vụ án như đề nghị của đại diện VKS là phù hợp.
Mặc dù phần đất này được xác định là của nguyên đơn nhưng phía nguyên đơn đã không quản lý, sử dụng từ năm 1997. Bị đơn canh tác hơn 20 năm, có nhiều công sức đóng góp, tôn tạo làm tăng giá trị QSDĐ. Vì lẽ đó cần phải tính công sức đóng góp cho bị đơn 30% trên giá trị diện tích đất 280,3m² là phù hợp.
Đồng thời cũng thấy rằng trong phần 280,3m² này có 01 phần lộ (ký hiệu 2 diện tích 102,9m²). Do phần diện tích này làm lộ, không canh tác được và các bên cũng thống nhất Nhà nước làm lộ không đền bù (Nhà nước và nhân dân cùng làm). Do vậy, cần trừ diện tích này ra không tính vào diện tích bị đơn hoàn trả là phù hợp. Cụ thể giá trị hoàn trả như sau: 280,3m² - 102,9m² = 177,4m² x 700.000đồng/m² x 70% = 86.926.000đồng.
Đối với các cây trồng, tường rào do ông C trồng và xây nên, quá trình trồng và xây tường rào là của bị đơn và vợ xây dựng nên bị đơn tiếp tục sử dụng mà không phải hoàn trả giá trị.
Về trách nhiệm hoàn trả tiền, Hội đồng xét xử xét thấy, trên đất có cây trồng, công trình do ông C, bà S1 trồng và xây dựng. Tai phiên tòa, ông bà cũng xác định đây là đất của ông bà. Do vậy, cần buộc ông bà cũng liên đới hoàn trả giá trị cho nguyên đơn là phù hợp. Ông bà được cùng đứng tên phần đất này sau khi hoàn tất nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho phía nguyên đơn.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
[6] Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng là 3.924.000đồng, nguyên đơn đã nộp xong. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên mỗi bên phải chịu 1/2 chi phí này. Buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn 1/2 chi phí tố tụng là 1.962.000đồng là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 166, 202, 203 Luật đất đai.
Các điều 166 Bộ luật dân sự.
Các điều 147, 157, 165, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Các điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.
3. Ghi nhận việc các đương sự thống nhất phần diện tích 42,1m² (thửa 312 tách - gồm các phần 5, 6, 7) không tranh chấp và thống nhất diện tích này thuộc về thửa 281 của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị S1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Ông C, bà S1 được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này cho phù hợp với nội dung bản án đã tuyên.
4. Xác định thửa đất số 312 tờ bản đồ số 08 tọa lạc tại xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre chỉ có diện tích là 280,3m² (312 còn lại) do ông Trần Văn B và bà Nguyễn Ngọc S đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thuộc quyền sử hữu của ông B, bà S.
Ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị S1 được quyền tiếp tục canh tách, quản lý thửa đất số 312 tờ bản đồ số 08 có diện tích là 280,3m² nói trên và có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông Trần Văn B và bà Nguyễn Ngọc S số tiền là 86.926.000đồng (tám mươi sáu triệu chín trăm hai mươi sáu ngàn đồng).
(các hửa đất có họa đồ kèm theo).
Ông C, bà S1 được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc sang tên, tách thửa, điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này cho ông bà cho phù hợp với nội dung bản án đã tuyên.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
5. Đối với cây trồng, công trình trên đất là của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị S1 nên ông bà tiếp tục canh tác, quản lý mà không phải bồi thường.
6. Về án phí sơ thẩm:
6.1 Nguyên đơn không phải nộp án phí. Hoàn trả cho bị đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001236 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
6.2 Ông C, bà S1 phải liên đối nộp 4.346.000đồng (bốn triệu ba trăm bốn mươi sáu ngàn đồng) tiền án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001524 ngày 25/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Ông C, bà S1 phải liên đới nộp tiếp 4.046.000đồng (bốn triệu không trăm bốn mươi sáu ngàn đồng) tiền án phí.
7. Về chi phí tố tụng: Buộc ông C, bà S1 phải liên đối trả lại cho nguyên đơn 1.962.000đồng (một triệu chín trăm sáu mươi hai ngàn đồng) chi phí tố tụng.
8. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Ngọc Tú |
Bản án số 90/2024/DS - ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 90/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòa án xét xử và chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
