|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN Bản án số: 90/2024/DS-ST Ngày: 04-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tặng cho, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Chí
2. Ông Trần Minh Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 344/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng tặng cho, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST -DS ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
- Bị đơn: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1956; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1952; Xin vắng mặt
- Ông Đặng Văn Minh Q, sinh năm 1980; Có mặt
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Long An; Địa chỉ: T, xã T, huyện C, tỉnh Long An; Xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị O trình bày:
Do phần mồ mã của ông bà tổ tiên nằm trong khu quy hoạch cần phải di dời nên nhờ người thân giới thiệu mà bà Nguyễn Thị O biết được ông Đặng Văn T có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 18/02/2008, bà Nguyễn Thị O cùng ông Đặng Văn T thỏa thuận và lập “Tờ bán đất” với nội dung ông T đồng ý chuyển nhượng cho bà O phần diện tích 950m² thuộc phần còn lại của thửa số1959, tờ bản đồ 4, tổng diện tích 2210m², loại đất lúa ở xã T, huyện C, tỉnh Long An do ông T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì trước đó ông T đã chuyển nhượng 01 phần diện tích của thửa số 1959 cho người khác nên khi thỏa thuận với bà O hiện chỉ còn lại diện tích khoảng 950m². Bà O đồng ý mua với giá là 180.000.000 đồng và bà O có đưa trước cho ông T số tiền là 60.000.000 đồng, còn lại 120.000.000 đồng khi nào ông T chuyển quyền sử dụng thì bà O sẽ đưa hết số tiền còn lại. Lúc đưa tiền thì đưa tại nhà ông T, có vợ ông T chứng kiến và biết sự việc mua bán.
Tờ bán đất do bà O viết tại nhà ông T gồm 2 bản, một bản do bà giữ lại và 01 bản đưa cho ông T, phần nội dung tại thửa đất số 1959” được viết chèn vào cùng thời điểm lập Tờ bán đất, cũng cùng màu mực, loại mực do khi đó do viết thiếu nên mới thêm vào. Khi thỏa thuận thì thửa đất đó ông T đang làm thủ tục tách thửa cho người khác nên không biết khi nào xong, do vậy các bên không hẹn thời gian làm thủ tục chuyển quyền mà chờ khi giấy đỏ về mới thực hiện.
Khoảng 03 tháng sau khi lập Tờ bán đất thì giấy đỏ của ông T về nên ông T có qua báo cho bà O biết và giao bản sao giấy đỏ. Khi đó, bà O có đến UBND xã T để hỏi thủ tục thì được biết thửa đất không được di dời mồ mả đến nên bà O có yêu cầu ông T đến UBND xã T để làm thủ tục và trả tiền thì ông T yêu cầu phải trả hết số tiền còn lại tại nhà ông T thì mới đồng ý làm thủ tục. Sau đó, bà O về nhà mà không có khởi kiện ông T, do giấy thỏa thuận không có ghi thời hạn nên bà cũng yên tâm.
Cách khoảng thời gian hơn 10 năm sau là năm 2022 thì bà O có trực tiếp đến nhà ông T để yêu cầu làm thủ tục khi đó vợ ông T nói đã bán cho người khác nên bà O mới khởi kiện đến Tòa án.
Số tiền 60.000.000 đồng mà bà O đưa cho ông T là tiền đưa trước với mục đích là để đảm bảo rằng ông T sẽ bán đất. Khi ông T ký hợp đồng làm thủ tục sang tên thì bà O sẽ đưa tiếp số tiền còn lại cho ông T. Nếu ông T không bán thì ông T có cam kết là “của nhận một tôi sẽ hoàn trả lại hai cho chị”. Nay bà O chỉ yêu cầu ông T chuyển nhượng thửa đất trên mà không đồng ý nhận lại tiền.
Do đó, bà Nguyễn Thị O yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ký kết ngày 20/12/2021, số chứng thực 237/2021, quyển số 01/2021-SCT/HĐ,GD giữa ông Đặng Văn T, bà Nguyễn Thị T1 với ông Đặng Văn Minh Q đối với thửa đất số 1959 (pcl), diện tích 960m², tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Yêu cầu ông Đặng Văn T tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1959 (pcl), diện tích
950m², tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An cho bà Nguyễn Thị O và bà O đồng ý giao tiếp số tiền còn lại là 120.000.000 đồng. Trường hợp, không thể tiếp tục chuyển nhượng được thì bà O yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bị đơn ông Đặng Văn T trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do ông T mua lại từ anh em chú bác năm 1990, đến năm 1997 thì ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1959, diện tích 2210m², tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Ông T và bà T1 chung sống với nhau từ khoảng năm 1978 đến nay, có người con lớn Đặng Ngọc H, sinh năm 1979. Năm 2008, ông T chỉ thỏa thuận bán cho bà Nguyễn Thị O diện tích 950m² còn lại thuộc thửa đất số 1959, loại đất lúa, với giá là 280.000.000 đồng. Bà O đặt cọc là 60.000.000 đồng, hẹn 02 ngày sau sẽ đưa hết số tiền còn lại và ông T sẽ làm thủ tục chuyển quyền cho bà O. Khi thỏa thuận bà O viết 02 Tờ bán đất ngày 18/02/2008, mỗi bên giữ 01 bản. Do không biết chữ (trình độ văn hóa 01/12) nên ông T không biết nội dung của Tờ bán đất, chỉ ghi được tên T.
Khi hẹn 02 ngày sau để đưa tiếp số tiền còn lại nhưng bà O không đến nên ông T có đến nhà bà O ở xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu tiếp tục giao tiền và làm thủ tục nhưng bà O có hẹn vài ngày sau, khi đó không có lập thêm văn bản nào khác. Đến vài ngày sau vẫn không thấy bà O liên lạc nên ông có đến nhà bà O vài lần nhưng không gặp. Sau đó, khoảng 01 tháng sau ông T có đến UBND xã L để nhờ giải quyết nhưng không được nhận hồ sơ. Do đó, ông T về chờ bà O liên lạc để giải quyết nhưng bà O vẫn không có liên lạc.
Năm 2021 con trai út của ông T nợ nần nên ông phải thế chấp giấy chứng nhận tại ngân hàng và bán các thửa đất để trả nợ cho con, riêng thửa đất tranh chấp thì bán cho con trai tên Q với giá là 600.000.000 đồng, trên giấy tờ thì làm hợp đồng tặng cho nhưng thực tế là mua bán.
Thời gian từ khi thỏa thuận năm 2008 thì đến năm 2023 bà O mới đến nhà ông T để yêu cầu trả số tiền 60.000.000 đồng. Khi đó ông T mới biết bà O đã ghi số tiền chuyển nhượng chỉ có 180.000.000 đồng, trong khi các bên thỏa thuận là 280.000.000 đồng. Thời điểm mua bán thì do ông đang thiếu nợ cần tiền mới bán đất nhưng bà O hứa hẹn mà không giao tiếp số tiền còn lại dẫn đến tiền nợ ngày càng nhiều nên ông phải bán diện tích trên để có tiền trả nợ.
Khi mua thì mục đích của bà O là để di chuyển mồ mả của ông bà nhưng do không mua nữa nên đã không di dời mồ mả đến. Do bà O không tiếp tục mua đất trong thời gian đã lâu nên bà O phải mất số tiền cọc đã giao cho ông. Vì vây, bà O khởi kiện thì ông T không đồng ý vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ký kết ngày 20/12/2021, số chứng thực 237/2021, quyển số 01/2021-SCT/HĐ,GD giữa ông Đặng Văn T, bà Nguyễn Thị T1 với ông Đặng Văn Minh Q đối với thửa đất số 1959 (pcl), diện tích 960m², tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1959 (pcl), diện tích 950m², tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An cho bà Nguyễn Thị O.
Trường hợp nếu hợp đồng tặng cho bị vô hiệu thì ông T không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng mà cha con tự giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Bà T1 thống nhất với lời khai của ông T. Khi ông T thỏa thuận mua bán với bà O tại nhà của ông T thì bà T1 cũng có mặt ở nhà nên có biết việc mua bán giữa 02 bên nhưng không biết nội dung số tiền và diện tích mua bán. Khi bà O làm Tờ bán đất thì bà O nói bà T1 không có liên quan nên không yêu cầu bà T1 cùng ký tên vào Tờ bán đất. Việc bà O đưa số tiền 60.000.000 đồng thì bà có biết vì ông T đưa để trả nợ cho ngân hàng.
Thời điểm đó bà T1 cũng đồng ý để ông T bán đất cho bà O để có tiền trả nợ. Khi vợ chồng chuộc giấy chứng nhận về để thực hiện mua bán thì chờ bà O nhưng không thấy, ông T2 cũng đến nhà tìm nhưng bà O hứa vài ngày vẫn không xuống. Do cần tiền trả nợ nên ông bà tiếp tục vay tiền của ngân hàng để trả nợ đến năm 2021 mới bán thửa đất.
Do bà O không thực hiện việc mua bán trong thời gian dài nên phải mất số tiền đặt cọc. Bà T1 cũng không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà O và bà T1 không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn Minh Q trình bày:
Năm 2021, do ông T cần tiền trả nợ cho con trai út nên đã bán nhiều thửa đất để trả nợ, trong đó có thửa đất tranh chấp. Khi đó, do không có ai mua nên ông Q đã vay mượn tiền để mua thửa đất 1959 (pcl) diện tích 960m² với giá là 600.000.000 đồng. Để giảm bớt chi phí khi mua bán nên các bên làm hợp đồng tặng cho, nhưng thực tế là hợp đồng mua bán.
Thời điểm ông T thỏa thuận bán đất cho bà O thì ông Q đi làm không có ở nhà nên không biết. Sau đó thì ông Q có nghe nói lại nhưng không biết nội dung cụ thể việc mua bán.
Khi ông T bán cho ông Q năm 2021 thì ông Q có biết là thửa đất này trước đây ông T có thỏa thuận bán cho bà O. Tuy nhiên do thời gian đã lâu mà bà O không tiếp tục mua bán nên đã mất tiền đặt cọc. Thời kỳ mua bán với bà O thì cũng có nhiều người bỏ tiền cọc do không mua nữa. Do vậy ông Q vẫn đồng ý mua thửa đất trên vào năm 2021.
Sau khi mua đất từ ông T thì ông có tiến hành dựng nhà tiền chế trên đất năm 2023 như chứng thư thẩm định giá mô tả. Nay bà O yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho thì ông Q không đồng ý. Ông Q cũng không có yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng mà do cha con tự giải quyết, cũng như phần công trình có trên đất.
Phần tranh luận:
Nguyên đơn không tranh luận:
Bị đơn ông Đặng Văn T trình bày: Năm 2008 do cần tiền nên ông T mới đồng ý bán đất cho bà O, nhưng sau đó bà O không tiếp tục mua nữa và để kéo dài đến nay nên phải bị mất số tiền đặt cọc.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét Tờ bán đất ngày 18/02/2028 giữa các bên được lập bằng văn bản nhưng không có công chứng, chứng thực, nội dung hợp đồng không đầy đủ theo quy định, các bên chưa giao nhận đất và bà O chỉ thực hiện được 1/3 nghĩa vụ giao tiền. Do đó, đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên theo Tờ bán đất vô hiệu do vi phạm về hình thức. Xét thấy, lỗi dẫn đến hợp đồng không thể thực hiện được là lỗi của cả hai bên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của bà O, buộc ông T trả lại số tiền đã nhận là 60.000.000 đồng và ông T bồi thường theo tỷ lệ là 33.33% cho bà O. Không chấp nhận yêu cầu của bà O về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Tờ bán đất và không chấp nhận yêu cầu của bà O về việc vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 20/12/2021.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và yêu cầu tiếp tục thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Tờ bán đất nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tặng cho, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất tọa lạc tại huyện C, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[1.3] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Bà Nguyễn Thị T1, Ủy ban nhân dân xã T có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị O về việc vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ký kết ngày 20/12/2021, số chứng thực 237/2021, quyển số 01/2021-SCT/HĐ,GD giữa ông Đặng Văn T, bà Nguyễn Thị T1 với ông Đặng Văn Minh Q đối với thửa đất số 1959 (pcl), diện
tích 960m², tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An và yêu cầu ông Đặng Văn T tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1959 (pcl), diện tích 950m², tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An cho bà Nguyễn Thị O, bà O đồng ý giao tiếp số tiền còn lại là 120.000.000 đồng, Hội đồng xét thấy:
[2.1] Các bên đều xác định Tờ bán đất ngày 18 tháng 02 năm 2008 mà nguyên đơn cung cấp là văn bản thỏa thuận giữa các bên vào năm 2008. Tuy ông T cho rằng giá chuyển nhượng 180.000.000 đồng ghi trong Tờ bán đất không phải ý chí của ông vì thời điểm thỏa thuận các bên thống nhất với giá là 280.000.000 đồng, nhưng ông T không cung cấp được chứng cứ nào khác để chứng minh cho nội dung trên. Do đó, xác định Tờ bán đất ngày 18 tháng 02 năm 2008 là văn bản thỏa thuận giữa bà Nguyễn Thị O và ông Đặng Văn T.
[2.2] Xét nội dung Tờ bán đất thấy rằng, ông Đặng Văn T cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích 950m², thuộc thửa đất số 1959 cho bà Nguyễn Thị O với giá chuyển nhượng là 180.000.000 đồng. Trong đó có nội dung “tôi nhận trước của chị O là 60.000.000 đồng, còn lại 120.000.000 đồng...” thì phía bà O cho rằng đây là tiền chuyển nhượng mà bà O đưa trước cho ông T, còn phía ông T xác định đây là tiền đặt cọc. Như vậy, các bên không thống nhất về tính chất của số tiền 60.000.000 đồng đã thực hiện.
[2.3] Hội đồng xét thấy, tuy các từ ngữ được ghi trong hợp đồng không thể hiện rõ tính chất của số tiền trên nhưng trong hợp đồng còn có nội dung “nếu tôi có làm gì sai, của nhận một tôi sẽ hoàn trả lại hai cho chị”, có thể thấy thỏa thuận này được sử dụng phổ biến, thường xuyên trong các giao dịch đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên, thỏa thuận này cũng phù hợp với quy định về đặt cọc tại khoản 2 Điều 358 của Bộ luật Dân sự 2005:“nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc...”. Do đó, xác định số tiền 60.000.000 đồng là tiền đặt cọc nhằm đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên mới có thỏa thuận phạt cọc khi vi phạm cam kết.
[2.4] Tuy nội dung trong Tờ bán đất không thỏa thuận về thời gian thực hiện việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng nhưng phía bà O, ông T cũng xác định tại thời điểm thỏa thuận thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T đối với thửa đất 1959 đang thực hiện giao dịch khác nên không thể thực hiện ngay việc giao kết với bà O. Và bà O khai nhận khoảng 03 tháng sau khi lập Tờ bán đất thì ông T có thông báo cho bà O và giao bản sao giấy chứng nhận, tuy nhiên do có sự không thống nhất nên các bên không thực hiện được việc giao kết hợp đồng.
[2.5] Do các bên chưa thực hiện việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và chỉ dừng lại ở giai đoạn đặt cọc để đảm bảo giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Và hiện nay, thửa đất đã được chuyển quyền sử dụng cho ông Đặng Văn Minh Q theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị
O về việc buộc ông Đặng Văn T tiếp tục thực hiện cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Tờ bán đất ngày 18/02/2008.
[2.6] Vì yêu cầu của bà O đối với đối tượng là thửa đất số 1959 không được chấp nhận, xét thấy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ký kết ngày 20/12/2021, số chứng thực 237/2021, quyển số 01/2021-SCT/HĐ,GD giữa ông Đặng Văn T, bà Nguyễn Thị T1 với ông Đặng Văn Minh Q đối với thửa đất số 1959 (pcl), diện tích 960m², tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An đã đảm bảo đúng, đủ điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của bà O về việc vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ký kết ngày 20/12/2021 nêu trên.
[2.7] Đối với số tiền đặt cọc 60.000.000 đồng, phía ông T cho rằng đã nhiều lần liên hệ nhưng bà O hứa hẹn và không thực hiện nên đến năm 2021 ông T mới chuyển nhượng cho người khác. Tuy nhiên, ông T không cung cấp được chứng cứ xác định có nội dung nêu trên. Và bà O cũng cho rằng sau khi các bên không thống nhất về việc thực hiện giao kết hợp đồng, giao nhận đối với số tiền còn lại thì bà O cũng không khởi kiện mà để sự việc kéo dài hơn 10 năm, đến khi phát hiện ông T chuyển nhượng cho người khác. Như vậy, thỏa thuận chuyển nhượng giữa các bên đến nay không thực hiện được đều do lỗi của cả hai bên. Trường hợp, không thể tiếp tục thực hiện việc giao kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bà Nguyễn Thị O yêu cầu giải quyết theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử xét buộc ông Đặng Văn T trả lại cho bà Nguyễn Thị O số tiền đặt cọc đã nhận là 60.000.000 đồng.
[3] Về chi phí thẩm định, định giá tài sản là 7.000.000 đồng, do yêu cầu của bà O không được chấp nhận nên bà O phải chịu và đã nộp xong.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị O phải chịu án phí là 600.000 đồng. Chuyển số tiền ứng án phí bà O đã nộp là 600.000 đồng theo biên lai thu số 0000456 ngày 13/5/2024 sang án phí sung công quỹ Nhà nước. Ông Đặng Văn T phải chịu án phí đối với số tiền đặt cọc phải trả cho bà O. Tuy nhiên, ông T thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 92, Điều 96, 101, 104, 147, 165, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 358 cảu Bộ luật Dân sự 2005;
Căn cứ Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị O vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ký kết ngày 20/12/2021, do Ủy ban nhân dân xã T chứng
thực, số chứng thực 237/2021, quyển số 01/2021-SCT/HĐ,GD giữa ông Đặng Văn T, bà Nguyễn Thị T1 với ông Đặng Văn Minh Q đối với thửa đất số 1959, diện tích 960m², tờ bản đồ số 4, loại đất lúa, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị O về việc yêu cầu ông Đặng Văn T tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1959 (pcl), diện tích 950m², tờ bản đồ số 4, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An theo Tờ bán đất ngày 18 tháng 02 năm 2008.
- Buộc ông Đặng Văn T phải trả lại cho bà Nguyễn Thị O số tiền đặt cọc là 60.000.000 đồng.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị O phải chịu chi phí thẩm định, định giá tài sản là 7.000.000 đồng và đã nộp xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị O phải chịu án phí là 600.000 đồng. Chuyển số tiền tạm ứng án phí bà O đã nộp là 600.000 đồng theo biên lai thu số 0000456 ngày 13/5/2024 sang án phí sung công quỹ Nhà nước. Ông Đặng Văn T được miễn án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án sơ thẩm các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phương Thảo |
Bản án số 90/2024/DS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tặng cho, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 90/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tặng cho, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng đặc cọc được giao kết từ năm 2008, không ghi thời gian thực hiện