|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2024/HS-ST Ngày 02 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Nguyên – Cán bộ hưu trí
- Ông Trần Thanh Việt – Chuyên viên phòng giáo dục TP Long Xuyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Phú Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày 26 tháng 4 năm 2007 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số B, hẻm B, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: Số D, đường T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Trình L, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23 tháng 10 năm 2023 đến nay. (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T: Ông Nguyễn Trình L, sinh năm 1973 và bà Huỳnh Thị Cẩm N1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số D, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0963.539.xxx) (Có mặt ông L, vắng mặt bà N1)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huỳnh T: Trợ giúp viên pháp lý ông Lương Minh H - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
2. Nguyễn Đỗ K, sinh ngày 10 tháng 7 năm 2007 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số H N, khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Đỗ V, sinh năm 1976 và bà Đỗ Thị Thanh H1, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23 tháng 10 năm 2023 đến nay. (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo K: Ông Nguyễn Đỗ V, sinh năm 1976 và bà Đỗ Thị Thanh H1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số H, đường N, khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0947.830.xxx) (Có mặt ông V, bà H1)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đỗ Kim : Trợ giúp viên pháp lý ông Lương Minh H - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
3. Trần Văn H2 (tên gọi khác: Bin T), sinh ngày 31 tháng 01 năm 2007 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số C, khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn K1, sinh năm 1987 và bà Phạm Thị Bé T1, sinh năm 1991; bị cáo chưa có vợ con; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03 tháng 10 năm 2023 đến nay. (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H2: Ông Trần Văn K1, sinh năm 1987 và bà Phạm Thị Bé T1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số C, khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0816.400.xxx). (Có mặt ông K1, vắng mặt bà T1)
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn H2: Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Quang V1 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
4. Trần Thanh P, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2006 tại huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; nơi ở hiện tại: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn N2, sinh năm 1981 và bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18 tháng 01 năm 2024 đến nay. (có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo P: Ông Trần Văn N2, sinh năm 1981 và bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0824.284.xxx) (có mặt bà B, vắng mặt ông N2)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đỗ K, Nguyễn Huỳnh T, Trần Thanh P: Trợ giúp viên pháp lý ông Lương Minh H - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
5. Lý Hồng P1, sinh ngày 29 tháng 01 năm 2006 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số F T, khóm D, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lý Hồng V2 (đã chết) và bà Trần Thị L1 (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 21 tháng 12 năm 2023 bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đang chấp hành hình phạt tù; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06 tháng 10 năm 2023 (Có mặt).
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo P1: Ông Trần Văn B1, sinh năm 1948 (ông ngoại của P1). Địa chỉ: Số F T, khóm D, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Bà Trần Thị Thanh T2, sinh năm 1982 (Dì ruột của P1). Cư trú: 9A, đường T, phường M, thành phố L (Có mặt bà T2, vắng mặt ông B1)
- Người bào chữa cho bị cáo Lý Hồng P1: Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Quang V1 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
6. Lê Minh T3, sinh ngày 10 tháng 9 năm 2007 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện V, Thành phố Cần Thơ; nơi ở hiện tại: Số E, Khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Văn B2, sinh năm 1970 và bà Dương Thị T4, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18 tháng 01 năm 2024 đến nay. (có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T3: Ông Lê Văn B2, sinh năm 1970 và bà Dương Thị T4, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, Thành phố Cần Thơ. (SĐT: 0939.779827-0799.754159) (Có mặt ông B2, vắng mặt bà T4)
- Đại diện Nhà trường của bị cáo T3: Ông Trần Minh Quốc D - Chức vụ: Giáo viên, Bí thư Đoàn trường của Trường trung học phổ thông N10 (SĐT: 0814.280.xxx) (Vắng mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Minh T3: Trợ giúp viên pháp lý ông Đỗ Khoa K2 – thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
7. Trần Kim N3, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2006 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số A N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Thanh Q, sinh năm 1978 và bà Đặng Thị Kim Q1, sinh năm 1980; bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23 tháng 10 năm 2023 đến nay. (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo N3: Ông Trần Thanh Q, sinh năm 1978 và Đặng Thị Kim Q1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số A N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0916.378.xxx) (Vắng mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Kim N3: Trợ giúp viên pháp lý bà Trần Thị Cẩm S - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
8. Nguyễn Trần Đăng K3 (tên gọi khác: Q2), sinh ngày 25 tháng 4 năm 2007 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số B, hẻm N, khóm P, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nơi ở hiện tại: Số D, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Bán vé số kiến thiết; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Trọng N4, sinh năm 1984 và bà Trần Thị Cẩm H3, sinh năm 1984; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23 tháng 10 năm 2023 đến nay. (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đăng K4: Ông Nguyễn Trọng N4, sinh năm 1984 và bà Trần Thị Cẩm H3, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số B, hẻm N, khóm P, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0939.341.xxx) (Có mặt bà H3, vắng mặt ông N4).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trần Đăng K3: Trợ giúp viên pháp lý bà Trần Thị Cẩm S - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
9. Võ Duy K5 (tên gọi khác: Khoa Mập), sinh ngày 12 tháng 9 năm 2007 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Võ Vĩnh T5, sinh năm 1978 và bà Lê Thị L2, sinh năm 1991; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26 tháng 02 năm 2024 đến nay. (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Duy K6: Ông Võ Vĩnh T5, sinh năm 1978 và bà Lê Thị L2, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, An Giang (SĐT: 0329.667.xxx) (Vắng mặt). Bà Dương Thị C, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, An Giang (Là bà nội của bị cáo K6, có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Võ Duy K5 (Khoa Mập): Trợ giúp viên pháp lý bà Văng Thị V3 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
10. Mai Hoàng Đ, sinh ngày 02 tháng 5 năm 2007 tại huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Mai Thanh H4, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị P2, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18 tháng 01 năm 2024 đến nay. (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đ: Ông Mai Thanh H4, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị P2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0528.031.xxx) (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Mai Hoàng Đ: Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Quang V1 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Bị hại:
- Bà Tô Thị L3, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số B, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0367.933.xxx) (Có mặt)
- Nguyễn Trọng N5, sinh năm 2006. Địa chỉ: Số B, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0367.933.xxx) (Có mặt)
- Nguyễn Tuấn H5, sinh năm 2004. Địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (SĐT: 0396.404.xxx) (Vắng mặt)
- Huỳnh Vũ D1, sinh năm 2007. Địa chỉ: Số G, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của D1: Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1968 (ngoại D1). Địa chỉ: Số G, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Văn N6, sinh năm 2009. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0987.671.xxx) (Vắng mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của N6: Ông Trần Minh Q3, sinh năm 1975; bà Phạm Thị Mộng T7, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0987.671.xxx) (Có mặt bà T7, vắng mặt ông Q3)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trần Văn N6: Trợ giúp viên pháp lý bà Trần Thị Cẩm S - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Huỳnh Nam K7, sinh năm 2009. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0945.170.xxx) (Vắng mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của K7: Ông Huỳnh Nam K8. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0945.170.xxx) (Vắng mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Huỳnh Nam K7: Trợ giúp viên pháp lý ông Phan Văn H6 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có đơn xin vắng mặt, có bài luận cứ bào chữa)
- Nguyễn Hoài T8, sinh năm 2009. Địa chỉ: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0776.551.xxx – 0783.968304) (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của T8: Ông Nguyễn Văn T9 và bà Nguyễn Thị H7. Địa chỉ: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0776.551.xxx - 0783.968304) (Vắng mặt). Ông Nguyễn Văn H8, sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (Là anh ruột của bị cáo T8, có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyễn Hoài T8: Trợ giúp viên pháp lý bà Trần Thị Cẩm S - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Trần Nhuận P3, sinh năm 2009. Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0852.112.xxx – 0789.546318) (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của P3: Ông Trần Văn S1 và bà Trịnh Thị Phương L4, sinh năm 1983. Địa chỉ: Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0852.112.xxx – 0789.546318) (Có mặt bà L4, vắng mặt ông S1)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trần Nhuận P3: Trợ giúp viên pháp lý ông Phan Văn H6 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có đơn xin vắng mặt, có bài luận cứ bào chữa)
- Thái Huỳnh Thanh L5, sinh năm 2008. Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của L5: Ông Thái Hòa B3. Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Thái Huỳnh Thanh L5: Trợ giúp viên pháp lý ông Lương Minh H - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Trần Hoàng Thiên Â, sinh năm 2008. Địa chỉ: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0337.276.xxx) (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của Â: Ông Trần Văn H9 và bà Trần Thị N7, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0337.276.xxx) (Có mặt bà N7, vắng mặt ông H9)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trần Hoàng Thiên Â: Trợ giúp viên pháp lý ông Lương Minh H - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Phan Hồng Đ1, sinh năm 2008. Địa chỉ: Số C, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0586.678.xxx) (Vắng mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của Đ1: Ông Phan Hồng T10. Địa chỉ: Số C, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0586.678.xxx). (Vắng mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Phan Hồng Đ1: Trợ giúp viên pháp lý ông Phạm Minh T11 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Nguyễn Huỳnh T (tên gọi khác: T nhỏ), sinh năm 2008. Địa chỉ: Số E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0962.739.xxx – 0963.539697) (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của T (T nhỏ): Ông Nguyễn Minh T12 và bà Trần Loan A, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0962.739.xxx – 0963.539697) (Có mặt bà A, vắng mặt ông T12)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyễn Huỳnh T (tên gọi khác: T nhỏ): Trợ giúp viên pháp lý ông Phạm Minh T11 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Nguyễn Trung T13, sinh năm 2010. Địa chỉ: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0328.663.xxx – 0374.258284). (Có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của T13: Ông Nguyễn Hữu T14 và bà Nguyễn Thị T15. Địa chỉ: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (SĐT: 0328.663.xxx – 0374.258284). (Có mặt bà T15, vắng mặt ông T14)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyễn Trung T13: Trợ giúp viên pháp lý bà Văng Thị V3 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Nguyễn Dư Phú Q4, sinh năm 2008. Địa chỉ: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0354.449.xxx). (Vắng mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của Q4: Ông Nguyễn Thanh T16 và bà Phan Thị Diễm . Địa chỉ: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (SĐT: 0354.449.xxx) (Có mặt bà D2, vắng mặt ông T16)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyễn Dư Phú Q4: Trợ giúp viên pháp lý bà Văng Thị V3 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Thái Văn H10, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
- Huỳnh Kim H11, sinh năm 1957. Địa chỉ: Số A N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
- Huỳnh Công L6, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
- Dương Văn T17, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số E, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
- Người làm chứng: Bao gồm các (ông/bà) và các em: Trần Thái Nhất T18, sinh năm 2005; Nguyễn Trọng N4, sinh năm 2002; Lê Nguyễn Chí T19, sinh năm 2006; Bà Phan Thị May C1, sinh năm 1982; Hồ Thị Thúy A1, sinh năm 2007. Ông Trần Nhân T20; Đỗ Anh V4, sinh năm 1995; Nguyễn Thị Minh T21, sinh năm 1995; Trương Thị Thanh N8 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhóm Cung T và nhóm T. khoảng 12 giờ ngày 28 tháng 9 năm 2023 nhóm Cung T (Gồm 09 người: Nguyễn Huỳnh T (T), Nguyễn Đỗ K, Trần Văn H2, Lý Hồng P1, Lê Minh T3, Trần Kim N3, Nguyễn Trần Đăng K3, Võ Duy K5, Mai Hoàng Đ) do T rủ, K là người liên hệ với K7 nhóm P để đi tìm Trần Thái Nhất T18 nhóm Trà ôn để chém T18. Nhóm Phú H12 (gồm 11 người: Huỳnh Nam K7 (sinh ngày 02 tháng 7 năm 2009), Trần Thanh P (sinh ngày 01 tháng 11 năm 2026) Trần Văn N6 (sinh ngày 30 tháng 4 năm 2009), Nguyễn Hoài T8 (sinh ngày 11 tháng 02 năm 2009), Trần Nhuận P3 (sinh ngày 20 tháng 3 năm 2009), Thái Huỳnh Thanh L5 (sinh ngày 21 tháng 01 năm 2008), Trần Hoàng Thiên  (sinh ngày 09 tháng 4 năm 2008), Phan Hồng Đ1 (sinh ngày 21 tháng 11 năm 2008), Nguyễn Huỳnh T(T, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2008), Nguyễn Trung T13 (sinh ngày 21 tháng 01 năm 2008), Nguyễn Dư Phí Q5 (sinh ngày 24 tháng 9 năm 2008).
Cả hai nhóm hẹn gặp nhau tại khu vực Làng G, từ đây xuất phát đến nhà bà L4 số 286/15, khóm B, phường B, đến nơi gặp T18 thì nhóm Phú H12 xông vào trước rượt chém T18, T18 bỏ chạy kịp nên các bị cáo Huỳnh T (T), K, H2, P, Huỳnh T (T), Nhuận P3, N6, Â, Nam K7 dùng dao mang theo trực tiếp chém làm hư hỏng: 01 tivi hiệu Sony Smart 43inch bị hư hỏng màn hình trị giá 2.150.000 đồng; 01 tủ kính hư hỏng 01 tấm kính, kích thước (0,42x1,2)m, dầy 05 li, thiệt hại 163.800 đồng; 03 tấm kính cửa tủ, kích thước (1,2x0,5)m, dầy 03 li, thiệt hại 315.000 đồng; 02 tấm kính cửa, kích thước (1,7x0,7)m, dầy 05 li, thiệt hại 773.500 đồng của bà L4. Làm hư hỏng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 67E1-458.02 bị hư hỏng mặt nạ, nắp trước, sau tay lái, cụm đèn sau, chắn bùn sau, thiệt hại 458.000 đồng của N5. Làm hư hỏng xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Neo, biển số 67D1-536.06 bị hư hỏng nắp trước, cụm đèn trước, chắn bùn sau, thiệt hại 490.000 đồng của H10. Trên đường về, đến phường M thì H2, N gặp D1 đang điều khiển xe và rượt chém, H2 chém vào xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, biển số 68X1-243.06 hư hỏng chắn bùn sau, thiệt hại 130.000 đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo T, K, H2, P (Huỳnh T (T), Nhuận P3, N6, Â, Nam K7 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) gây thiệt hại cho các bị hại là 4.480.300 đồng.
Ngày 29 tháng 9 và 02 tháng 10 năm 2023, Ủy ban nhân dân các phường M, B, thành phố L có văn bản đề nghị xử lý những người có hành vi gây mất an ninh, trật tự tại khóm T, phường M và khóm B, phường B, thành phố L vào ngày 28 tháng 9 năm 2023.
Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L: 01 tivi hiệu Sony Smart 43inch bị hư hỏng màn hình trị giá 2.150.000 đồng; 01 tủ kính hư hỏng 01 tấm kính, kích thước (0,42x1,2)m, dầy 05 li, thiệt hại 163.800 đồng; 03 tấm kính cửa tủ, kích thước (1,2x0,5)m, dầy 03 li, thiệt hại 315.000 đồng; 02 tấm kính cửa, kích thước (1,7x0,7)m, dầy 05 li, thiệt hại 773.500 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 67E1-458.02 bị hư hỏng mặt nạ, nắp trước, sau tay lái, cụm đèn sau, chắn bùn sau, thiệt hại 458.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Neo, biển số 67D1-536.06 bị hư hỏng nắp trước, cụm đèn trước, chắn bùn sau, thiệt hại 490.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, biển số 68X1-243.06 bị hư hỏng chắn bùn sau, thiệt hại 130.000 đồng. Tổng thiệt hại 4.480.300 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 đoạn video ghi lại diễn biến sự việc phía trước nhà bà Tô Thị L3 ngày 28 tháng 9 năm 2023; 04 cây dao có lưỡi bằng kim loại, chiều dài từ 47cm đến 50cm do Lê Nguyễn Chí T19 giao nộp; 04 cây dao có lưỡi bằng kim loại, chiều dài từ 20cm đến 50cm và 03 biển số 67E1-458.02, 67D1-536.06, 68X1-243.06 ở khu dân cư L; 08 cây dao có lưỡi bằng kim loại, chiều dài từ 45cm đến 90cm do Lý Hồng P1 giao nộp; 01 xe mô tô biển số 67M2-4446, số khung 002881, số máy 8002881 do Nguyễn Đỗ Kim giao n; 01 xe mô tô biển số 66L9-2952, số khung 001229, số máy 421229 do Trần Hoàng Thiên  giao nộp; 01 xe mô tô biển số 67M1-462.68, số khung 00020460, số máy 00020460 do Nguyễn Hoài T8 giao nộp; 01 xe mô tô biển số 67B1-261.36, số khung 053233, số máy 053233 do Thái Huỳnh Thanh L5 giao nộp; 01 xe mô tô biển số 67TA-0387, số khung 17106, số máy 019038 do Võ Duy K5 giao nộp; 01 xe mô tô biển số 67B1-729.13, số khung 006899, số máy 06899 do Lê Minh T3 giao nộp; 01 xe mô tô biển số 67M4-8623, số khung 71622722, số máy 622722 do Trần Kim N3 giao nộp.
Căn cứ kết luận giám định số 319/KL-KTHS ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Phòng K9 Công an tỉnh A: Xe mô tô biển số 67M2-4446 số khung 002881, số máy 8002881: không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy, xóa, hoen gỉ; Xe mô tô biển số 66L9-2952 số khung 001229, số máy 421229: không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy, xóa, hoen gỉ; Xe mô tô biển số 67M1-462.68 số khung 00020460, số máy 00020460: không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy, xóa, hoen gỉ; Xe mô tô biển số 67B1-261.36 số khung 053233, số máy 053233: không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy, xóa, hoen gỉ; Xe mô tô biển số 67TA-0387 số khung 17106, số máy 019038: không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy, xóa, hoen gỉ; Xe mô tô biển số 67B1-729.13 số khung 006899, số máy 06899: không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy, xóa, hoen gỉ.
Căn cứ phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Công an thành phố L, xác định: Xe mô tô biển số 67M2-4446, số khung 002881, số máy 8002881, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen - xám, chủ xe Lê Thị Mai N9, địa chỉ: Số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Xe mô tô biển số 66L9-2952, số khung 001229, số máy 421229, nhãn hiệu Rima, màu sơn xanh - xám, chủ xe Huỳnh Thị Bích Đ2, địa chỉ: Ấp C, xã G, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Xe mô tô biển số 67M1-462.68, số khung 00020460, số máy 00020460, nhãn hiệu Jiulong, màu sơn xanh, chủ xe Trương Bảo D3, địa chỉ: Ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; Xe mô tô biển số 67B1-261.36, số khung 053233, số máy 053233, nhãn hiệu Guida, màu sơn đỏ - đen, chủ xe Huỳnh Công L6, địa chỉ: Ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; Xe mô tô biển số 67TA-0387, số khung 17106, số máy 017106, nhãn hiệu Foco, màu sơn đỏ - đen, chủ xe Mai Văn S2, địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; Xe mô tô biển số 67B1-729.13, số khung 006899, số máy 06899, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đỏ, chủ xe Dương Văn T17, địa chỉ: Số E, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, An Giang; Xe mô tô biển số 67M4-8623, số khung 71622722, số máy 622722, nhãn hiệu Wayec, màu sơn đen - bạc, chủ xe Huỳnh Kim H11, địa chỉ: Số A T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại cáo trạng số 74/CT-VKSLX-HS ngày 02/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã Truy tố các bị cáo Nguyễn Huỳnh T (T), Nguyễn Đỗ K, Trần Văn H2, Trần Thanh P về các tội “Gây rối trật tự công cộng” ” theo điểm b khoản 2 Điều 318 và“Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo T3, P1, N3, Đăng K4, Đ, Duy K6 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh T, Nguyễn Đỗ Kim : Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 103 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T, Nguyễn Đỗ K, mỗi bị cáo: Từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 03 tháng tù.
Đối với bị cáo Trần Văn H2, Trần Thanh P: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 55; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 103 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn H2, Trần Thanh P, mỗi bị cáo: Từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Từ 04 tháng đến 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Đối với bị cáo Nguyễn Trần Đăng K3, Lý Hồng P1, Lê Minh T3, Trần Kim N3, Võ Duy K5, Mai Hoàng Đ: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 BLHS đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trần Đăng K3 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo Lý Hồng P1, Lê Minh T3, Trần Kim N3, Võ Duy K5, Mai Hoàng Đ, mỗi bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Riêng bị cáo Lý Hồng P1 còn phải áp dụng thêm Điều 104 BLHS tổng hợp với hình phạt 02 năm tù của Bản án mà bị cáo P1 đang chấp hành để buộc bị cáo P1 phải chấp hành hình phạt chung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 BLHS và Điều 106 BLTTHS đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 16 cây dao và 02 biển số 67D1-536.06, 68X1-243.06. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 67TA-0387. Trả lại cho bà Đỗ Thị Thanh H1 xe mô tô biển số 67M2-4446. Trả lại cho bà Huỳnh Kim H11 xe mô tô biển số 67M4-8623. Trả lại cho ông Huỳnh Công L6 xe mô tô biển số 67B1-261.36. Trả lại cho ông Dương Văn T17 xe mô tô biển số 67B1-729.13. Trả lại cho bà Trần Thị N7 xe mô tô biển số 66L9-2952. Trả cho ông Nguyễn Văn T9 xe mô tô biển số 67M1-462.68. Trả lại cho Nguyễn Trọng N5 01 biển số 67E1-458.02,
Các trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo: Về tội danh thống nhất theo bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Về hình phạt, các bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi phạm tội do thiếu sự quan tâm, giáo dục nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Các trợ giúp viên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên việc không truy tố là phù hợp quy định pháp luật.
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị hại, các vật chứng đã thu giữ và kết luận định giá tài sản, đoạn camera thu giữ. Phù hợp các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 12 giờ ngày 28 tháng 9 năm 2023 bị cáo Huỳnh T rủ nhóm Cung T đi tìm T18 nhóm T để chém. Kim điện đủ K7 nhóm P để đi cùng. Cả hai nhóm hẹn nhau tại khu vựa làng giáo viên, cả hai nhóm chuẩn bị hung khí là các dao tự chế đến nhà bà L3 số 286/15, khóm B, phường B. Gặp T18 thì nhóm Phú H12 xông vào trước rượt chém T18, T18 bỏ chạy kịp nên các bị cáo Huỳnh T (T), K, H2, P dùng dao mang theo chém tài sản của bà L3 là 01 tivi hiệu Sony Smart 43 inch gây hư hỏng màn hình trị giá 2.150.000 đồng; 01 tủ kính gây hư hỏng 01 tấm kính, kích thước (0,42x1,2)m, dầy 05 li, thiệt hại 163.800 đồng; hư hỏng 03 tấm kính cửa tủ, kích thước (1,2x0,5)m, dầy 03 li, thiệt hại 315.000 đồng; hư hỏng 02 tấm kính cửa, kích thước (1,7x0,7)m, dầy 05 li, thiệt hại 773.500 đồng. Làm hư hỏng mặt nạ, nắp trước, sau tay lái, cụm đèn sau, chắn bùn sau xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 67E1-458.02 của N5. Làm hư hỏng nắp trước, cụm đèn trước, chắn bùn sau xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Neo, biển số 67D1-536.06 của H10. Trên đường về, đến phường M thì H2, N gặp D1 đang điều khiển xe nên rượt chém, H2 chém vào xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, biển số 68X1-243.06 gây hư hỏng chắn bùn sau, thiệt hại 130.000 đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo Huỳnh T(T), K, H2, P (Đối với Huỳnh T (T), Nhuận P3, N6, Â, Nam K7 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) gây thiệt hại cho các bị hại là 4.480.300 đồng. Các bị cáo sử dụng nhiều xe mô tô, mang theo nhiều hung khí, lưu thông trên đường vào buổi trưa gây mất an ninh trật tự, gây náo loạn khu vực hẻm đông dân cư thuộc khóm B, phường B. Ủy ban nhân dân phường B có văn bản đề nghị xử lý hình sự đối với các bị cáo nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản và gây rối trật tự công cộng.
Đối với các bị cáo T3, P3, N3, Đăng K4, Đ, Duy K6 với động cơ mục đích ban đầu cùng nhóm đi tìm T18 để gây thương tích. Việc các các bị cáo T, K, H2, P đập phá tài sản khi không chém được T18 là ngoài ý chí ban đầu của các bị cáo nên các bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Đối với, Huỳnh Nam K7, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2009, Trần Văn N6, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2009, Nguyễn Hoài T8, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2009, Trần Nhuận P3, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2009, Thái Huỳnh Thanh L5, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2008, Trần Hoàng Thiên Â, sinh ngày 09 tháng 4 năm 2008, Phan Hồng Đ1, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2008, Nguyễn Huỳnh T (T), sinh ngày 24 tháng 9 năm 2008, Nguyễn Trung T13, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2008, Nguyễn Dư Phí Q5, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2008 nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về các tội “Gây rối trật tự công cộng”, “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Hành vi nêu trên của các bị cáo T, K, H2, P đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù (tội phạm nghiêm trọng) và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” khoản 1 Điều 178 của của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù (tội phạm ít nghiêm trọng). Các bị cáo T3, P3, N3, Đăng K4, Đ, Duy K6 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù (tội phạm nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, tài sản của ngưới khác. Gây mất an ninh xã hội, ảnh hưởng cuộc sống sinh hoạt bình thường của cộng đồng dân cư, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo là những người chưa đủ 18 tuổi, lẽ ra cần được sự quan tâm giáo dục của gia đình nhiều hơn nhưng các bị cáo chỉ vì muốn thể hiện mình nên đã tụ tập thành các nhóm nhằm mục đích gây thương tích cho nhau. Khi không gây được thương tích thì đập phá tài sản, gây rối trật tự công cộng tại địa phương. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, động cơ mục đích nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa các nhóm với nhau.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo T, K cũng là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng tình tiết tăng nặng xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội, quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, không áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị can Nguyễn Huỳnh T (T), Nguyễn Đỗ K, Trần Văn H2, Trần Thanh P, Lý Hồng P1, Lê Minh T3, Trần Kim N3, Nguyễn Trần Đăng K3, Võ Duy K5, Mai Hoàng Đ được áp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị can T, K, H2, P còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Khi quyết định hình phạt nhận thấy: Bị cáo T là người rủ, K là người liên hệ nhóm K7, trực tiếp thực hiện hành vi làm hư hỏng tài sản; H2, P là người trực tiếp làm hư hỏng tài sản; bị cáo K5 chuẩn bị hung khí cùng K; bị cáo P1 có nhân thân xấu; các bị cáo T3, N3, Duy K5, Đ có vai trò tương đương nhau với vai trò điều khiển xe. Do đó, mức án của T, Kim cao hơn H2, P; mức án Khoa cao hơn P1; Phát cao hơn các bị cáo còn lại.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bà L3 đã nhận bồi thường 18.000.000 đồng; N5 đã nhận bồi thường 5.000.000 đồng; H10 đã nhận bồi thường 490.000 đồng; D1 không yêu cầu bồi thường. Tại phiên tòa, các bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[6] Về vật chứng: 16 cây dao là công cụ dùng vào việc phạm tội và 02 biển số 67D1-536.06, 68X1-243.06 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. xe mô tô biển số 67TA-0387 của bị cáo Duy K5 đã dùng vào việc phạm tội nên bị tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước. Đối với xe mô tô biển số 67M2-4446 của Đỗ Thị Thanh H1; xe mô tô biển số 67M4-8623 của Huỳnh Kim H11; xe mô tô biển số 67B1-261.36 của Huỳnh Công L6; xe mô tô biển số 67B1-729.13 của Dương Văn T17; xe mô tô biển số 66L9-2952 của Trần Thị N7; xe mô tô biển số 67M1-462.68 của Nguyễn Văn T9; 01 biển số 67E1-458.02 của Nguyễn Trọng N5 nên được trả lại.
[7] Về án phí sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huỳnh T, Nguyễn Đỗ K, Trần Văn H2, Trần Thanh P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trần Đăng K3, Lý Hồng P1, Lê Minh T3, Trần Kim N3, Võ Duy K5, Mai Hoàng Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 103 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 103 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đỗ Kim 0 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 55; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 103 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Văn H2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 55; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 103 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thanh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Đăng K3 01 (một) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lý Hồng P1 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù theo Bản án hình sự phúc thẩm số 157/2023/HS-PT ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. Hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 06/10/2023).
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Minh T3 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Kim N3 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ Duy K5 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Mai Hoàng Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 16 cây dao và 02 biển số 67D1-536.06, 68X1-243.06.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 67TA-0387.
- Trả lại cho bà Đỗ Thị Thanh H1 xe mô tô biển số 67M2-4446.
- Trả lại cho bà Huỳnh Kim H11 xe mô tô biển số 67M4-8623.
- Trả lại cho ông Huỳnh Công L6 xe mô tô biển số 67B1-261.36.
- Trả lại cho ông Dương Văn T17 xe mô tô biển số 67B1-729.13.
- Trả lại cho bà Trần Thị N7 xe mô tô biển số 66L9-2952.
- Trả cho ông Nguyễn Văn T9 xe mô tô biển số 67M1-462.68.
- Trả lại cho Nguyễn Trọng N5 01 biển số 67E1-458.02.
(Đặc điểm tang vật như Quyết định chuyển vật chứng ngày 02/5/2024).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Quốc Việt |
Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về vụ án hình sự về tội gây rối trật tự công cộng và cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 90/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng và Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 103 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Thắng 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành là 02 (hai) năm tù.
