TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2023/HS-ST | Ngày: 28 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Quỳnh Nga.
2. Bà Nguyễn Thị Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2023, đối với:
Các bị cáo:
1. Lê Minh H, sinh năm 1997 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. HKTT: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn S, mẹ: Lê Thị M; Vợ: Nguyễn Thị Thanh H1 và có 1 người con sinh năm 2020;
Tiền sự: không.
Tiền án: Bản án số 126/2021/HSST ngày 19/10/2021 của Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 20/7/2022.
Nhân thân: Bản án số 44/2016/HSST ngày 31/5/2016 của Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt cả hai tội là 05 năm tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 06/11/2018; Quyết định số 08/QĐ ngày 22/02/2021 của Công an xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt Lê Minh H số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2023, chuyển tạm giam từ ngày 19/01/2023. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố B. (có mặt)
2. Trần Đức T, sinh ngày 10/02/2004 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. HKTT: Ấp N, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Đức T1 (đã chết), mẹ: Trần Thị L; Vợ, con: không có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị tạm giữ từ ngày 16/01/2023, chuyển tạm giam từ ngày 19/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (có mặt)
3. Trần Quang V, sinh năm 2002 tại Hậu Giang. HKTT: Ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Văn Đ, mẹ: Trần Mộng T2 (đã chết); Vợ, con: không có;
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 108/QĐ-XPHC ngày 20/7/2022 của Công an huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phạt 4.000.000 đồng về hành vi “Mang theo trong người các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác”.
Bị tạm giữ ngày 18/01/2023, chuyển tạm giam ngày 19/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (có mặt)
4. Văn Hữu N, sinh ngày 06/10/2005 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. HKTT: Ấp N, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Văn Thành L1, mẹ: Phan Thị N1; Vợ, con: không có;
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000177/QĐ-XPHC ngày 27/9/2022 của Công an xã L, thành phố B xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Tham gia tụ tập đông người nơi công cộng”.
Nhân thân: Tại Bản án số 08/2023/HS-ST ngày 17/01/2023 của Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên phạt 20 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Hiện bị cáo đang chấp hành Bản án số 08/2023/HS-ST ngày 17/01/2023 từ ngày 16/3/2023. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo N: Bà Phan Thị N1, sinh năm 1986. HKTT: Ấp N, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo N: Ông Lê Minh P – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt)
Bị hại:
1. Trần Quang V, sinh năm 2008. HKTT: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị hại V: Bà Trần Thị Minh T3, sinh năm 1987. HKTT: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
2. Trần Đăng K, sinh năm 2007. HKTT: Tổ A, Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị hại K: Ông Trần Văn L2, sinh năm 1973. HKTT: Tổ A, Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại K: Bà Hồ Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt)
3. Phạm Ngọc Q, sinh năm 2004. HKTT: Số D thôn L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
4. Trần Nguyên D, sinh năm 2004. HKTT: Khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
5. Lê Minh Q1, sinh năm 2006. HKTT: Ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị hại Q1: Ông Lê Tuấn H3. HKTT: Ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
6. Lê Long H4, sinh năm 1994. HKTT: Tổ A, ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 15/01/2023, Lê Minh H cùng Trần Đức T, Văn Hữu N, Trần Quang V, Đào Minh T4 (sinh ngày 03/3/2008, HKTT: Tổ E, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh BR-VT), Trần Thanh C (sinh ngày 28/7/2007, HKTT: Ấp Đ, xã H, thành phố B, tỉnh BR-VT), Võ Đình T5 (sinh ngày 06/9/2009, HKTT: Tổ 8, ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh BR-VT), Nguyễn Thị Thanh H1 (sinh năm 2002. HKTT: Tổ 6, ấp N, xã L, thành phố B, tỉnh BRVT) và Trúc G, K1, T6 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ăn nhậu tại khu vực đập 10 cửa thuộc xã H, thành phố B. Trong lúc nhậu thì H kể có người tên T7 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) chửi bố của H nên H rủ mọi người trong nhóm nhậu đi kiếm T7 để đánh thì T, V, N, T4, C, T6 và T5 đều đồng ý. Riêng Trúc G, K1, H1 không đi chung với nhóm H.
Sau đó, T4 chạy đi lấy 01 con dao tự chế, V chạy về lấy 02 cây dao tự chế, N chạy đi lấy 02 con dao tự chế, rồi cả nhóm đi tìm T7 để đánh. T5 đi xe mô tô Yamaha Sirius của C chở theo C, T6 ngồi sau cầm theo 02 cây dao tự chế ngồi sau. T4 đi xe mô tô Honda Cup của N chở theo N cầm theo 01 con dao tự chế. V đi xe mô tô Yamaha Sirius của V chở T, H ngồi sau cầm theo 02 cây dao tự chế. Nhóm H cầm theo dao tự chế chạy từ khu vực Đập 10 cửa về vòng xoay xã H thì T4 chở N đi đổ xăng, còn C, H, T, T5, V, T6 chạy theo đường T đến ngã tư T - N - Võ Thị S1 thì chạy theo đường V. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Khi đến chợ L3 thuộc thị trấn L, huyện L, tỉnh BR-VT thì cả nhóm dừng lại, thấy anh Trần Quang V đang ngồi phụ bán bông tết cùng với bạn. Nghĩ anh V và bạn anh V là người của nhóm T7 nên H cùng với T, C và T6 cầm dao tự chế lao vào chém vai, lưng, tay của anh V nhiều nhát gây thương tích.
Sau đó, cả nhóm H chạy về hướng Lò bò bà T8, đi theo đường T đến vòng xoay H thì quay lại, khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến ngã tư T - V thuộc xã H thành phố B thì gặp Trần Đăng K đang chạy xe mô tô, cả nhóm chặn đầu xe của K, lúc này C, H, T6, T dùng dao chém nhiều nhát vào vùng đầu, lưng, tay của Trần Đăng K. Tiếp tục, cả nhóm lên xe cầm dao tự chế theo đường Võ Văn K2 chạy về Bệnh viện B1, đến gần vòng xoay khu chung cư thu nhập thấp thì gặp T4 và N nên cả nhóm ra đường bờ kè Bà Rịa đi đến vòng xoay V, tới gần trường Trần Văn Q2 của huyện L thì gặp 01 người đàn ông say rượu, người này chửi nhóm H nên nhóm H có đuổi theo đánh người này nhưng không được. Rồi cả nhóm chạy xuống chợ L3 để đánh nhóm người mà nhóm H đã đánh trước đó. Khi đến nơi, thì thấy trước cổng chợ có người đàn ông đứng cầm 01 cây gậy bằng tre. Nghĩ là người của nhóm T7 nên cả nhóm đuổi đánh nhưng không đánh được.
Tiếp theo, nhóm H chạy theo đường Võ Thị S1 hướng về Bà Rịa rồi chạy vào đường T, khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đến gần ngã tư V - T thuộc phường L, thành phố B thì nhóm H thấy có Phạm Ngọc Q cùng Lê Hữu Hoàng H5 (sinh năm 2004, HKTT: 31T1 N, thị trấn L, huyện L, tỉnh BR-VT) và Trần Nguyên D đi trên 02 xe mô tô Honda V1, nghĩ đây là những người bên nhóm T7 nên nhóm H cầm dao tự chế đưa ra rồi bảo Q, H5, D dừng xe lại, H cùng T, N, T6 xuống xe H, T dùng dao chém nhiều nhát vào tay, chân, lưng của Phạm Ngọc Q, N dùng tay đánh vào bụng Q, sau khi chém xong thì nhóm H bỏ đi.
Nhóm H tiếp tục chạy về hướng lò bò bà T8 rồi chạy vào đường V hướng về L, khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi qua trung tâm nuôi dạy chó thì gặp anh Lê Minh Q1 điều khiển xe mô tô Exiter biển số 72H-387.86, nghĩ anh Q1 là người của T7 nên nhóm H quay lại đuổi theo, thì thấy anh Lê Minh Q1 cùng Phạm Ngọc Q, H5, D đang dừng dưới đường V thuộc thị trấn L, huyện L. Thấy nhóm của H cầm hung khí quay lại nên chị D và anh Q1 bỏ chạy vào nhà người dân lẩn trốn và để lại xe mô tô Vision biển số 72K1-782.18 và xe mô tô Exiter biển số 72H-387.86 trên đường, còn Q và H5 dắt xe Honda Vision của H5 vào nhà người dân trốn. Thấy vậy, H dùng hung khí chém nhiều nhát vào chiếc xe mô tô Vision biển số 72K1-782.18. Tiền, N và T6 dùng hung khí chém vào xe mô tô Exiter biển số 72H-387.86 còn V, C, T5, T4 ngồi lại trên xe chờ. Sau đó cả nhóm H lên xe đi về, khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, khi đi đến đường V thuộc phường L, thành phố B thấy 01 xe ô tô biển số 72A-595.82 do anh Lê Long H4 đang đậu bên đường thì H dùng dao chém vào kính hậu của xe ô tô rồi cả nhóm H chạy về lại gần đập 10 cửa, đưa dao tự chế cất giấu ở bờ ruộng rồi đi về.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa cùng các ngành chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường. Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) nón bảo hiểm màu đen đã bị nứt vỡ của Trần Đăng K.
- 05 (năm) dao tự chế gồm: 01 dao dài 63cm, cán gỗ dài 19cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 44cm, bản rộng 9cm, mũi nhọn, có 01 cạnh sắc; 01 dao dài 49cm, cán hình trụ bằng kim loại dài 16cm, lưỡi dao bằng kim loại bản rộng 2cm, mũi nhọn, có 01 cạnh sắc; 01 dao dài 117cm; cán bằng kim loại có hình trụ, chiều dài 67cm, bên trên cán được quấn băng keo đen; lưỡi dao bằng kim loại, bản rộng 6cm, mũi nhọn có 01 cạnh sắc; 01 dao dài 60cm; cán bằng kim loại dài 18cm, bên trên có quấn băng keo đen; lưỡi dao bản rộng 4cm, mũi nhọn, có 01 cạnh sắc; 01 dao dài 47cm cán dao dài 12cm, được bọc bằng ống nhựa màu đen lưỡi dao có đầu tù, bản rộng 4cm, có 01 cạnh sắc; 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại: Fortuner, màu: Đồng, biển số 72A-595.82, số máy 2GD1168987; số khung RL4AB3GSXN2890527, bị thiệt hại 01 (một) gương (có ốp gương) chiếu hậu ngoài bên trái.
- 01 video trên đường T thuộc ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh BR-VT ghi lại sự việc gây án của các bị cáo đối với Trần Đăng K vào lúc 21 giờ 43 phút ngày 15/01/2023 do Công an xã H.
Cơ quan CSĐT Công an huyện L tạm giữ:
- 01 xe mô tô biển số 72K1-782.18, nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu đỏ-nâu-đen, số máy JK03E2586776, số khung RLHJK031XNY582409 (bị hư hỏng một số bộ phận).
- 01 xe mô tô biển số 72H-387.86, nhãn hiệu Yamaha, loại xe: MX KING 150, số máy G3E6E0635348, số khung MH3UG0750MK094986 (bị hư hỏng một số bộ phận).
- 01 chiếc nón bảo hiểm màu trắng.
- Đối với xe mô tô Yamaha Sirius của C và V, xe Honda Cup của N mượn của những người (không rõ họ tên, địa chỉ), các bị cáo không nhớ biển số xe nên không thu giữ được.
* Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 55/TgT ngày 27/02/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B của Trần Đăng K kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: 01 sẹo trung bình; 01 sẹo lớn (cẳng tay trái); 08 vết đứt da nông, lành đổi màu da.
2. Vật gây thương tích? Chiều hướng gây thương tích? Thời gian gây thương tích: Các thương tích trên được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng:
- Với thương tích 1: Chiều hướng từ trên xuống dưới.
- Với thương tích 2, 5, 6: Chiều hướng từ sau ra trước.
- Với thương tích 3, 4, 7, 8: Chiều hướng trái sang phải.
- Với thương tích 6: Chiều hướng từ phải sang trái.
- Với thương tích 9, 10: Chiều hướng trước ra sau.
- Về thời gian gây thương tích: Các thương tích nêu trên có trước thời điểm giám định ít nhất 10 ngày.
3. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là: 06% (Sáu phần trăm).
* Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 72/KLTTCT-PYBRVT ngày 10/03/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B của Phạm Ngọc Q kết luận:
1. Các kết quả chính: Kết quả khám giám định: 02 sẹo nhỏ; 02 vết trầy sướt nông, lành đổi màu da.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Ngọc Q thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của từng thương tích:
- Về vật gây thương tích và chiều hướng gây ra thương tích:
Thương tích 1 và 2: Mỗi một thương tích có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
Thương tích 3 và 4: Có tỷ lệ tổn thương cơ thể chung là 01%.
Thương tích 1, 2, 3: Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ sau ra trước. Thương tích 4: Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trái sang phải.
* Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 62/TgT ngày 08/03/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B của Trần Quang V kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: 01 sẹo lớn; 06 sẹo nhỏ; 02 sẹo trung bình; Gãy mỏm ngang 02 đốt sống ngực.
2. Về vật gây thương tích, chiều hướng lực tác động:
- Thương tích 2: Phù hợp với tổn thương cơ bản là “vết chém hay băm bổ”, được gây ra do sự tác động của vật có diện rộng hoặc có trọng lượng lớn tác động với lực mạnh vào cơ thể như dao rựa, dao phay, búa, rìu; tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới.
- Các thương tích còn lại: Phù hợp với tổn thương cơ bản là “vết đứt cắt”, được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng:
- Với thương tích 1: Chiều hướng từ trên xuống dưới.
- Với thương tích 3, 6, 7, 9: Chiều hướng từ phải sang trái,
- Với thương tích 4: Chiều hướng từ sau ra trước.
- Với thương tích 5: Chiều hướng từ trái sang phải.
+ Với thương tích 8: Chiều hướng từ trước ra sau.
3. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là 28%.
* Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 01/03/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố B kết luận: Giá trị sửa chữa thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Fortuner, màu đồng, biển số 72A-595.82, số máy 2GD1168987, số khung RL4AB3GSXN2890527, gồm: 01 gương (có ốp gương) chiếu hậu bên trái là 7.735.500 đồng.
* Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 01/03/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện L kết luận:
1. Xe mô tô biển số 72K1- 782.18, nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ - nâu - đen, số khung RLHJK031XNY582409, số máy JK03E2586776 bị hư hỏng các bộ phận gồm: ốp đầu trước, ốp đầu sau, đèn pha phía trước, đồng hồ công tơ mét, mặt nạ lớn, mặt nạ nhỏ, ốp xi nhan phải, cụm xi nhan phải, vỏ bao biển số xe là 4.465.000 đồng.
2. Xe mô tô biển số 72H1- 387.86, nhãn hiệu Yamaha, loại: MX KINH 150, màu xanh, số khung: MH3UG0750MK094986, số máy: G3E6E0635348 bị hư hỏng các bộ phận gồm: ốp hông bên trái, ốp đầu đèn, cùm đồng hồ công tơ mét và cụm đèn chiếu sáng phía trước của xe là 4.060.000 đồng.
* Trách nhiệm dân sự:
- Anh Lê Long H4 yêu cầu bồi thường 7.735.500 đồng.
- Chị Trần Nguyên D yêu cầu bồi thường số tiền 4.465.000 đồng.
- Anh Lê Minh Q1 yêu cầu bồi thường số tiền 4.060.000 đồng.
- Anh Trần Quang V (bị hại) yêu cầu bồi thường số tiền 15.000.000 đồng.
- Anh Trần Đăng K yêu cầu bồi thường số tiền 50.000.000 đồng.
- Anh Phạm Ngọc Q không yêu cầu bồi thường dân sự.
Hiện các bị cáo chưa bồi thường cho các bị hại.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại Fortuner, màu: Đồng, biển số: 72A – 595.82, số máy 2GD1168987; số khung: RL4AB3GSXN2890527, bị thiệt hại 01 (một) gương (có ốp gương) chiếu hậu ngoài bên trái do bà B Đặng Thị P1 (mẹ của anh Lê Long H4), sinh năm: 1967, HKTT: A7-7/3 TTĐT C, phường N, thành phố V, tỉnh BR-VT đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan CSĐT đã trả lại cho bà Đặng Thị P1.
- 01 video trên đường T thuộc ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh BR-VT ghi lại sự việc gây án của các bị can đối với Trần Đăng K vào lúc 21 giờ 43 phút ngày 15/01/2023.
- 01 xe mô tô biển số 72K1-782.18, nhãn hiệu Honda, loại xe: Vision, màu đỏ-nâu-đen, số máy JK03E2586776, số khung RLHJK031XNY582409 do chị Trần Nguyên D đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan CSĐT đã trả lại tài sản trên cho chị D.
- 01 xe mô tô biển số 72H-387.86, nhãn hiệu Yamaha, loại xe MX KING 150, số máy G3E6E0635348, số khung MH3UG0750MK094986 do chị Phan Thị X (mẹ của anh Lê Minh Q1) đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan CSĐT Tàu đã trao trả các tài sản trên cho chị X.
- 01 chiếc nón bảo hiểm màu trắng của Lê Minh Q1. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B trả lại cho anh Q1.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa ra quyết định chuyển toàn bộ vật chứng gồm: 01 (một) nón bảo hiểm màu đen đã bị nứt vỡ; 01 dao dài 63cm, cán gỗ dài 19cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 44cm, bản rộng 9cm, mũi nhọn, có 01 cạnh sắc; 01 dao dài 117cm; cán bằng kim loại có hình trụ, chiều dài 67cm, bên trên cán được quấn băng keo đen; lưỡi dao bằng kim loại, bản rộng 6cm, mũi nhọn có 01 cạnh sắc; 01 dao dài 49cm, cán hình trụ bằng kim loại dài 16cm, lưỡi dao bằng kim loại bản rộng 2cm, mũi nhọn, có 01 cạnh sắc; 01 dao dài 60cm; cán bằng kim loại dài 18cm, bên trên có quấn băng keo đen; lưỡi dao bản rộng 4cm, mũi nhọn, có 01 cạnh sắc; 01 dao dài 47cm; cán dao dài 12cm, được bọc bằng ống nhựa màu đen; lưỡi dao có đầu tù, bản rộng 4cm, có 01 cạnh sắc đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản, chờ xử lý.
Đối với đối tượng tên T6, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
Bản cáo trạng số 82/CT-VKSBR ngày 13/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa truy tố các bị cáo: Lê Minh H, Trần Đức T, Trần Quang V, Văn Hữu N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Lê Minh H, Trần Đức T, Văn Hữu N bị truy tố về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lê Minh H: Không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt. Đồng ý bồi thường cho anh V 4.500.000đ; anh K 3.270.861đ; anh Hồ 7.735.500đ; chị D 4.465.000đ. Tổng cộng 19.700.500đ.
- Bị cáo Trần Đức T: Không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt. Đồng ý bồi thường cho anh V 3.500.000đ; anh K 3.000.000đ; anh Q1 2.060.000đ; chị D 4.465.000đ. Tổng cộng 8.560.000đ.
- Bị cáo Trần Quang V: Không tranh luận, xin được giảm nhẹ hình phạt. Đồng ý bồi thường cho anh V 3.500.000đ; anh K 3.000.000đ. Tổng cộng 6.500.000đ.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo N: Thống nhất tội danh và điều luật áp dụng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh của N, bản thân không được đi học, nhận thức kém, cha mẹ ly hôn, gia đình khó khăn đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N được hưởng mức án thấp nhất.
- Bị cáo N và người đại diện hợp pháp: Thống nhất ý kiến người bào chữa, không tranh luận bổ sung gì thêm, xin được giảm nhẹ hình phạt. Đồng ý bồi thường cho các bị hại V 3.500.000đ; Khôi 3.000.000đ; Quan 2.000.000đ. Tổng cộng 8.500.000đ.
- Bị hại Trần Quang V và người đại diện hợp pháp: Thống nhất bị cáo H bồi thường 4.500.000đ và mỗi bị cáo T, N, V bồi thường 3.500.000đ. Tổng cộng 15.000.000đ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại K: Thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng đối với các bị cáo. Tuy nhiên, quá trình điều tra, các bị cáo không có thiện chí bồi thường; bản thân các bị cáo có nhân thân xấu, không sửa chữa lỗi lầm còn tiếp tục phạm tội cho thấy xem thường pháp luật, đề nghị xử nghiêm; về trách nhiệm dân sự: các bị cáo có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh K tổng số tiền đã thỏa thuận là 12.000.000đ.
- Bị hại K và người đại diện hợp pháp: Thống nhất trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: đồng ý các bị cáo H, T, V, N mỗi bị cáo bồi thường 3.000.000đ. Tổng cộng 12.000.000đ.
- Bị hại Lê Minh Q1 và người đại diện hợp pháp: Thống nhất bị cáo T bồi thường 2.060.000đ, bị cáo N bồi thường 2.000.000đ. Tổng cộng 4.060.000đ.
- Bị hại Trần Nguyên D: Thống nhất bị cáo H bồi thường 4.465.000đ.
- Bị hại Lê Long H4: Thống nhất bị cáo H bồi thường 7.735.500đ.
* Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo: Lê Minh H, Trần Đức T, Trần Quang V, Văn Hữu N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý gây thương tích”; các bị cáo Lê Minh H, Trần Đức T, Văn Hữu N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
1. + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm h, o khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
+ Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 134; điểm h, o khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Tổng hợp hình phạt của 03 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 07 năm đến 08 năm 03 tháng tù.
2. + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
+ Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo T từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Tổng hợp hình phạt của 3 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 09 tháng tù.
3. + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo V từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
+ Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo V từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tổng hợp hình phạt của 2 tội buộc bị cáo V phải chấp hành hình phạt chung từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù.
4. + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 191 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nhân từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
+ Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 191 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nhân từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 191 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nhân từ 04 đến 7 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Tổng hợp hình phạt của 3 tội và hình phạt 01 năm 08 tháng tù của bản án số 08/2023/HS-ST ngày 17/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung từ 05 năm đến 05 năm 11 tháng tù.
5. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 01 dao dài 63cm, cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại; 01 dao dài 117cm cán bằng kim loại, lưỡi dao bằng kim loại; 01 dao dài 49cm, cán bằng kim loại, lưỡi dao bằng kim loại; 01 dao dài 60cm cán bằng kim loại, lưỡi dao bản rộng 4cm; 01 dao dài 47cm, cán dao dài 12cm, lưỡi dao có đầu tù; 01 nón bảo hiểm màu đen đã bị nứt vỡ.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa đang quản lý, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 87 ngày 14/7/2023).
4. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo N và các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại V, K, Q1, cụ thể:
- Bị cáo Lê Minh H bồi thường 4.500.000đ và các bị cáo Trần Đức T, Văn Hữu N, Trần Quang V mỗi bị cáo bồi thường 3.500.000đ cho bị hại Trần Quang V. Tổng cộng 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).
- Các bị cáo Lê Minh H, Trần Đức T, Trần Quang V, Văn Hữu N mỗi bị cáo bồi thường cho bị hại Trần Đăng K 3.000.000đ. Tổng cộng 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng).
- Bị cáo Trần Đức T bồi thường 2.060.000đ và bị cáo Văn Hữu N bồi thường 2.000.000đ cho bị hại Lê Minh Q1. Tổng cộng 4.060.000đ (Bốn triệu không trăm sáu mươi ngàn đồng).
- Bị cáo Lê Minh H bồi thường cho bị hại Trần Nguyên D 4.465.000đ (Bốn triệu bốn trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) và bị hại Lê Long H4 7.735.500đ (Bảy triệu bảy trăm ba mươi lăm ngàn năm trăm đồng).
Trường hợp bị cáo Văn Hữu N không có tài sản bồi thường thì người đại diện hợp pháp của bị cáo có nghĩa vụ bồi thường thay cho bị cáo N.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Án phí: Các bị cáo Lê Minh H, Trần Đức T, Trần Quang V, Văn Hữu N, mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Lê Minh H phải nộp 985.000đ (Chín trăm tám mươi lăm ngàn đồng), bị cáo Trần Đức T phải nộp 428.000đ (Bốn trăm hai mươi tám ngàn đồng), bị cáo Trần Quang V phải nộp 325.000đ (Ba trăm hai mươi lăm ngàn đồng) và bị cáo Văn Hữu N phải nộp 425.000đ (Bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Các bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp của bị cáo, của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 90/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự: gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích, cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 90/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Gây rối trật tự công cộng, Cố ý gây thương tích, Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Minh Hậu (04 BC) phạm tội Cố ý GTT-Gây rối TTCC-Cố ý làm HHTS
