Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HSST

Ngày: 17/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Quàng Ngọc Tiên.
  • 2. Ông Vừ A Câu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Điện Biên Đông Đông. Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn D (không có tên gọi khác), sinh năm: 1982 tại tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản S, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Quàng Văn N (đã chết) và bà Lò Thị T, sinh năm 1941; Vợ: không, năm 2001 sống chung như vợ chồng với chị Lò Thị H, sinh năm 1981 có hai người con chung; năm 2023 sống chung như vợ chồng với chị Lường Thị V, sinh năm 1984 có một người con chung. Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án: không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt hành chính; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/3/2024 đến ngày 14/3/2024 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đình T, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 05/3/2024, Quàng Văn D một mình đi bộ từ bản S, xã N, huyện Đ lên khu vực bản N, xã N, huyện Đ tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến đầu bản N, xã N Quàng Văn D gặp và trao đổi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) một gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 50.000đ. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc đi bộ về nhà. Hồi 11 giờ, khi D đi về đến đầu bản S, thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với công an xã N phát hiện bắt quả tang thu giữ gói nilon màu xanh, bên trong có chứa chất bột trắng nghi là Heroine.

Tại Biên bản mở niêm phong vật chứng cân khối lượng và lấy mẫu giám định và Kết luận giám định số: 514/KL-KTHS, ngày 12/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng chất bột trắng gói trong 01 gói nilon màu xanh thu giữ của Quàng Văn D là 0,15 gam là ma túy loại Heroine, hoàn lại 0,13 gam.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an huyện Đ chưa làm rõ được người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo do không có thông tin cụ thể.

Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSĐBĐ ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Quàng Văn D về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quàng Văn D về cả tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quàng Văn D từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 0,13 gam Heroine còn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu xanh. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát về các vấn đề tội danh, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ. Người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đã đề xuất, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không bổ sung thêm lời bào chữa. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi của bị cáo Quàng Văn D bị truy tố thấy rằng:

Tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, cụ thể bị cáo khai nhận vào hồi 11 giờ, ngày 5/3/2024 bị cáo đang cất giấu 01 gói Heroine trong túi quần nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang, khối lượng gói Heroine là 0,15 gam, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/3/2024, Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các biên bản ghi lời khai và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: bản thân bị cáo Quàng Văn D là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý mua tàng trữ 0,15 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ chấp nhận.

[2]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo tuy diễn ra đơn giản, chỉ vì nghiện chất ma túy nên mua tàng trữ để sử dụng nhưng hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội liên quan đến chất ma túy cần phải xử lý nghiêm minh.

[3]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bị cáo không có tiền án tiền sự, nghiện ma túy từ năm 2012 do đua đòi bè bạn, tại địa phương đã được tuyên truyền biết rõ tác hại chất ma túy, nhưng không đủ bản lĩnh cai nghiện, nên mua tàng trữ ma túy phạm tội như ngày hôm nay.

Tuy nhiên cũng xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; có bố đẻ ông Quàng Văn N được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự

Như vậy, phân tích đề xuất về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận.

[4]. Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, không có tài sản có giá trị khó có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo đã đề xuất.

[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án: 0,13 gam Heroine còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 mảnh nilon màu xanh dùng gói chất ma túy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo như đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo đã đề xuất.

[8]. Về các vấn đề khác trong vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra công an huyện Đ chưa làm rõ được người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo do không có thông tin cụ thể. Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

  • - Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn D (không có tên gọi khác) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • - Xử phạt bị cáo Quàng Văn D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 05/3/2024).

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 0,13 gam Heroine (còn lại sau giám định) và 01 mảnh nilon màu xanh.

Vật chứng đã được bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 30/5/2024 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/7/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đ;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo.
  • - Nhà tạm giữ C.A huyện Đ;
  • - Cơ quan CSĐT C.A huyện Đ;
  • - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên;
  • - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - CC.THADS huyện Đ;
  • - Lưu: Hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 90/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ ngày 05/3/2024, Quàng Văn D một mình đi bộ từ bản S, xã N, huyện Đ lên khu vực bản N, xã N, huyện Đ tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến đầu bản N, xã N Quàng Văn D gặp và trao đổi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) một gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 50.000đ. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc đi bộ về nhà. Hồi 11 giờ, khi D đi về đến đầu bản S, thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với công an xã N phát hiện bắt quả tang thu giữ gói nilon màu xanh, bên trong có chứa chất bột trắng nghi là Heroine. Tại Biên bản mở niêm phong vật chứng cân khối lượng và lấy mẫu giám định và Kết luận giám định số: 514/KL-KTHS, ngày 12/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng chất bột trắng gói trong 01 gói nilon màu xanh thu giữ của Quàng Văn D là 0,15 gam là ma túy loại Heroine, hoàn lại 0,13 gam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger