Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 90/2025/LĐ-ST

Ngày: 06 - 3 - 2025

V/v “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh.
  2. Ông Nguyễn Nhật Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Lý Loan - Kiểm sát viên.

Vào ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm vụ án lao động thụ lý số 249/2024/TLST-LĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-LĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa:

Nguyên đơn: Bà Lâm Thị X, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH J.,L; địa chỉ: Đường Số D, KCN Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Đăng M, sinh năm 1979; địa chỉ: H N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, là đại diện theo ủy quyền, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố T; địa chỉ: Đường N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lâm Thị X trình bày:

Bà X vào làm việc tại Công ty TNHH J1 từ tháng 08 năm 2015, hai bên có ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, vị trí công việc công nhân với mức lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động mà hai bên ký kết. Cuối năm 2023, do tình hình sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên Công ty TNHH J1 Co.,Ltd cho bà X nghỉ đến khi có công việc thì làm lại, nhưng từ tháng 01 năm 2024 công ty đóng cửa không hoạt động buộc bà X phải nghỉ sang làm ở công ty khác. Khi làm thủ tục bảo hiểm xã hội bà X mới biết Công ty TNHH J1 không đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 05 năm 2023 đến tháng 9 năm 2023 và không chốt sổ cho bà X theo quy định. Do đó bà Lâm Thị X yêu cầu Công ty TNHH J1 đóng tiền bảo hiểm xã hội theo số tiền do bảo hiểm xã hội tính và chốt trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà X từ tháng 05 năm 2023 đến tháng 9 năm 2023.

* Bị đơn Công ty TNHH J1 trình bày:

Về thời gian ký hợp đồng lao động như nguyên đơn trình bày là đúng. Công ty TNHH J1 hiện đang gặp nhiều khó khăn, do đó không còn hoạt động và hiện không còn nguồn tài chính để thực hiện việc thanh toán ngay Bảo hiểm xã hội cho người lao động. Toàn bộ nhà xưởng bỏ trống và không còn sản xuất kinh doanh do thiếu tài chính để duy trì, hiện Công ty TNHH J1 Co.,Ltd chỉ còn một bảo vệ để trông coi tài sản. Công ty rất thiện chí chấp hành pháp luật Việt Nam để bảo vệ quyền lợi của người lao động nhưng chưa thể đáp ứng ngay vì không có đủ điều kiện thực hiện. Công ty TNHH J1 thống nhất theo kết quả trả lời của Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương về thời gian và mức bảo hiểm chưa đóng cho nguyên đơn. Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: Trong quá trình tố tụng đã có công văn trả lời cho Tòa án về quá trình đóng bảo hiểm đối với trường hợp của bà X và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ.

- Đại diện bị đơn: Giữ nguyên ý kiến trình bày.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An: Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Về nội dung: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Lao động; các điều 18, 19, 21, 22 Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2014; Công văn số 80/CV-BHXH ngày 16/01/2025 của Bảo hiểm Xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp về bảo hiểm xã hội, buộc Công ty TNHH J1 phải đóng tiền bảo hiểm xã hội và thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo xác nhận của bảo hiểm, chốt trả sổ cho bà X theo đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Lâm Thị X khởi kiện Công ty TNHH J1 yêu cầu công ty phải nộp tiền bảo hiểm xã hội và xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Công ty TNHH J1 có địa chỉ trụ sở chính tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.

- Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Bà Lâm Thị X và Bảo hiểm thành phố T có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà X yêu cầu Công ty chốt sổ bảo hiểm cho bà từ tháng 5/2023 đến tháng 9/2023. Căn cứ Công văn số 80/CV-BHXH ngày 16/01/2025 của Bảo hiểm xã hội thành phố T xác định: Bà Lâm Thị X, sinh ngày 01/01/1982, mã số Bảo hiểm xã hội 7410315822 có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH J1 từ tháng 11 năm 2015 và Công ty TNHH J1 đã tham gia bảo hiểm xã hội cho bà X đến tháng 09/2023. Tuy nhiên, từ tháng 5/2023 đến tháng 9/2023 Công ty TNHH J1 đang nợ bảo hiểm với số tiền 8.012.800đ.

[2.2] Qua các tài liệu thu thập, ý kiến trình bày của bị đơn, có cơ sở xác định: từ tháng 5/2023 đến tháng 9/2023 Công ty TNHH J1 Co.,Ltd trích lương của bà X nhưng không nộp tiền bảo hiểm xã hội cho bà X và không xác nhận thời gian tham gia bảo hiểm xã hội cho bà X là vi phạm pháp luật, số tiền còn nợ theo xác nhận của bảo hiểm xã hội là 8.012.800đ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà X theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội, khoản 3 Điều 47 của Bộ luật Lao động. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà X là có căn cứ chấp nhận.

[2.3] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị X. Buộc Công ty TNHH J1 phải có trách nhiệm nộp các khoản bảo hiểm xã hội còn nợ từ tháng 05/2023 đến hết tháng 09/2023 là 8.012.800đ cho bà Lâm Thị X tại Bảo hiểm xã hội thành phố T. Các khoản phải nộp, thời gian nộp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ thực hiện các thủ tục để chốt, trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà X theo quy định pháp luật.

[3] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty TNHH J1 phải chịu án phí lao động sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 235, 238, 244, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 48 Bộ luật Lao động;
  • - Các Điều 17, 18, 19, 21, 85, 86, khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị X đối với bị đơn Công ty TNHH J1 về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”.
  2. Buộc Công ty TNHH J1 có trách nhiệm nộp các khoản bảo hiểm xã hội còn nợ từ tháng 05/2023 đến hết tháng 09/2023 với số tiền 8.012.800đ cho bà Lâm Thị X, sinh năm 1982, số căn cước công dân: [...]; mã số Bảo hiểm xã hội 7410315822 tại Bảo hiểm xã hội thành phố T. Các khoản phải nộp, thời gian nộp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội.

    Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền và nghĩa vụ thực hiện các thủ tục để chốt, trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà X theo quy định pháp luật.

  3. Về án phí: Công ty TNHH J1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND Tp. Thuận An;
  • - CCTHADS Tp. Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hoa Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/LĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về bảo hiểm xã hội

  • Số bản án: 90/2025/LĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải nộp BHXH, chốt sổ BHXH cho nguyên đơn theo quy định
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger