Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/HSST

Ngày: 27/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Mận – Giáo viên về hưu.
  2. Bà Ngô Thùy Phương – Cán bộ về hưu.

- Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Lan Phương – Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 91/2025/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/QĐXXST-HS ngày 14/3/2025 đối với:

- Các bị cáo:

  1. Hoàng Văn N, sinh ngày 26/11/2007;

    HKTT: Thôn P, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Hoàng Văn T và bà Phạm Thị T1; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 124 ngày 13/10/2023 của Công an huyện G xử phạt Cảnh cáo về hành vi "Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo vũ khí thô sơ" bằng hình thức ‘Cảnh cáo”. Đã chấp hành xong ngày 13/10/2023;

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 29/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. – Có mặt tại phiên toà.

  2. Nguyễn Văn K, sinh ngày 28/8/2008;

    HKTT: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị X; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 29/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. – Có mặt tại phiên toà.

  3. Nguyễn Văn M, sinh ngày 15/5/2008;

    HKTT: Thôn C, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị H1; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 29/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. – Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Nguyễn Phương N1, sinh năm 2003; trú tại: Tổ dân phố H, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)

- Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Hoàng Văn N: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1978 (là bố đẻ bị cáo); HKTT: Thôn P, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

- Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Văn K: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 (là bố đẻ bị cáo); HKTT: Thôn H, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

- Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Văn M: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975 (là mẹ đẻ bị cáo); HKTT: Thôn C, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn N: Ông Trần Văn T3 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Vắng mặt)

- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn K: Bà Nguyễn Thị T4 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Đỗ Thị M1, sinh năm 1989; trú tại: khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/12/2024, do không có tiền tiêu sài nên Hoàng Văn N nảy sinh ý định lừa trao đổi xe mô tô để chiếm đoạt tài sản. Sau đó, N sử dụng tài khoản Facebook "Đông Ka" đăng bài với nội dung giao lưu xe không giấy tờ kèm hình ảnh 01 xe mô tô nhãn hiệu AirBlade (N không có xe mô tô) vào nhóm "Giao lưu xe kgt – xe góp uy tín" thì anh Nguyễn Phương N1 nhắn tin qua ứng dụng M2 đặt vấn đề trao đổi xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu đen BKS: 38P1-677.13 lấy xe mô tô nhãn hiệu AirBlade không giấy tờ như trong ảnh đăng thì N chưa đồng ý. Đến ngày 26/12/2024, khi không có ai hỏi đổi xe nên N nhắn tin cho anh N1 đồng ý đổi chiếc xe mô tô nhãn hiệu Air Blade như trong ảnh đăng lấy xe mô tô BKS: 38P1-677.13 và hẹn anh N1 đến thôn Đ, xã Đ, thị xã Q để giao dịch, anh N1 đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, anh N1 gọi điện qua ứng dụng Messenger nói đã đến điểm hẹn nên N thuê taxi chở đến gặp anh N1 và chị Mạc Thị N2. Tại đây, N yêu cầu anh N1 cho xem giấy tờ xe mô tô BKS 38P1-677.13 thì anh N1 đưa cho N giấy chứng nhận đăng ký xe trên. Sau đó, N nhắn tin qua ứng dụng M2 rủ Nguyễn Văn K cùng lừa chiếm đoạt xe mô tô BKS: 38P1-677.13 thì K đồng ý nên N bảo K rủ thêm Nguyễn Văn M đi cùng. K nhắn tin rủ M cùng đi lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô, M đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, khi anh N1, chị N2 và N ngồi uống nước tại quán nước thuộc thôn Đ, xã Đ thì N bảo anh N1 cùng đi lấy xe. Lúc này, anh N1 đưa xe mô tô BKS: 38P1-677.13 cho N điều khiển chở anh N1 đi đến xã N, thị xã Q thì N gọi điện qua ứng dụng M3 hỏi K đang ở đâu thì K bảo đang cùng M đang ở trước cửa quán I thuộc thôn H, xã N, thị xã Q nên N điều khiển xe mô tô chở N1 đến cổng quán internet Bùng P đón M cùng đi đến khu vực cổng trường mầm non T6. Lúc này, N lấy lý do vào kho cất xe không cho người lạ vào nên bảo anh N1 và M đứng đợi N đi đổi xe, anh N1 đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô BKS: 38P1-677.13 về khu vực thôn C, xã C, thị xã Q và nhắn tin bảo K đi đón M và tìm cách bỏ lại anh N1. K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không lắp biển kiểm soát đi đến khu vực cổng trường mầm non thôn H, xã N, thị xã Q đón anh N1 và M đi quanh khu vực đường đê đến sông cầu đến vực chân cầu đi huyện Y, tỉnh Bắc Giang thuộc xã Q, thị xã Q thì K và M dừng xe bảo anh N1 xuống xe ngồi đợi N rồi K điều khiển xe mô tô chở M phóng xe bỏ chạy. Sau khi chiếm đoạt được xe mô tô BKS: 38P1-677.13 Nghĩa mang xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe đến cửa hàng xe máy Tuyên M1 ở khu phố G, phường P, thị xã Q gặp chị Đỗ Thị M1 là chủ cửa hàng đặt vấn đề bán xe mô tô BKS: 38P1-677.13 thì chị M1 kiểm tra giấy tờ xe mô tô và hỏi xe của ai thì N bảo xe mua lại của bạn nên chị M1 đồng ý mua xe mô tô và trả Nghĩa số tiền 9.800.000 đồng. Số tiền bán xe, N cho K và M 1.350.000 đồng, số tiền còn lại N ăn tiêu cá nhân hết.

Tại kết luận định giá tài sản số 95/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Q kết luận: "01 xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha, màu đen bạc BKS: 38P1-677.13, số máy: JA39EE2170758, số khung: RLHJA3925MY053453 (đã qua sử dụng) tại thời điểm định giá trị giá là: 12.470.000 đồng".

Với nội dung trên, Cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn K về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại Khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo N, M, K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đều có thái độ ăn năn, hối cải.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo N, M, K lần lượt là các ông bà Hoàng Văn T, Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị H1: Nhất trí với lời trình bày của các bị cáo, không bổ sung gì thêm.

Người bị hại là anh Nguyễn Phương N1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng xin xét xử vắng mặt, xác nhận đã được nhận lại chiếc xe moto nêu trên và không yêu cầu gì, đồng thời đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là chị Đỗ Thị M1 xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ

thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX:

  • Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn K về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

  • Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 65, 58, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự; các điều 12, 119, 124, 179 Luật tư pháp người chưa thành niên; các điều 331, 333 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

  • Xử phạt Hoàng Văn N từ 08 đến 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 16 đến 22 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  • Xử phạt Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn M mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  • Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng có gửi lời bào chữa, trong đó nhất trí với quan điểm của đại diện VKS về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đều đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo và người đại diện theo pháp luật đều nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không bổ sung gì thêm, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, bị hại, xác định hiện trường vụ án, xác minh lý lịch, nhân thân của bị can; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, người liên quan. Các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt và trình bày đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình; người bào chữa cho các bị cáo đều vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt và gửi bản luận cứ bào chữa. Do vậy, những người này vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử.

[2] Về nội dung:

[2.1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, các bản tự khai, các biên bản ghi lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan, kết luận định giá và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 18 giờ 45 ngày 26/12/2024, tại cổng trường mầm non thôn H, xã N, thị xã Q, Hoàng Văn N, Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn M có hành vi gian dối lừa mang xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu đen BKS: 38P1-677.13 của anh Nguyễn Phương N1 đi đổi lấy xe mô tô nhãn hiệu Air Blade để chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu đen BKS: 38P1-677.13 trị giá 12.470.000 đồng của anh N1.

Do vậy, các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn M phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại Khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự, như cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố.

[2.2] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự phân công rõ ràng giữa các bị cáo, trong đó: Nghĩa là người khởi xướng, chỉ đạo K và M đồng thời trực tiếp thực hiện hành vi gian dối, chiếm đoạt chiếc xe moto của bị hại nên có vai trò cao nhất; K và M là người giúp sức nên có vai trò thứ hai.

[2.3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ.

[2.4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; tác động gia đình bồi thường cho người liên quan nên được hưởng tình các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo N, ngày 13/10/2023 bị xử phạt hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” nhưng đến khi phạm tội (ngày 26/12/2024) đã quá 06 tháng nên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

[2.5] Xét thấy các bị cáo đều là người chưa thành niên, có nhân thân tốt (trừ N bị xử phạt hành chính một lần bằng hình thức cảnh cáo từ ngày 13/10/2023), có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giao dục riêng và phòng ngừa chung, xử phạt các bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.

[2.6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội khi dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[2.7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[2.8] Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe moto nhãn hiệu mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu đen BKS: 38P1-677.13 của anh Nguyễn Phương N1 bị các bị cáo chiếm đoạt, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh N1 là đúng quy định.

[2.9] Liên quan đến vụ án này:

  • Đối với chiếc điện thoại N sử dụng để nhắn tin và gọi điện qua ứng dụng M2 cho anh N1. Quá trình điều tra N khai nhận đã làm dơi mất vào ngày 28/12/2024 đến nay chưa thu hồi được, khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau.

  • Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, không lắp biển kiểm soát K sử dụng để chở M và N1. Quá trình điều tra, K khai nhận mượn xe mô tô trên của của 01 người bạn ngoài xã hội (K không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này) khi cùng chơi bi-da tại thôn Đ, xã Đ, thị xã Q đã trả lại xe mô tô trên cho người bạn vào tối ngày 26/12/2024 đến nay chưa xác định được. Khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

  • Đối với chị Đỗ Thị M1 người đã mua xe mô tô của N, quá trình điều tra xác định chị M1 không biết xe mô tô trên do N phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q không xử lý là phù hợp.

[2.10] Về án phí: Các bị cáo đều phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn K về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 65, 58, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự; các điều 12, 119, 124, 179 Luật tư pháp người chưa thành niên; các điều 331, 333 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

  3. Xử phạt:

    • Bị cáo Hoàng Văn N 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    • Bị cáo Nguyễn Văn K 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    • Bị cáo Nguyễn Văn M 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  4. Giao bị cáo Hoàng Văn N cho UBND xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn M cho UBND xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  5. Về án phí: Các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 Đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bào chữa của các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Bắc Ninh;

  • VKSND thị xã Quế Võ;

  • Công an tỉnh Bắc Ninh;

  • Chi cục THADS thị xã Quế Võ;

  • UBND xã Châu Phong, xã Ngọc Xá;

  • Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;

  • Bị cáo; bị hại, người liên quan, người đại diện theo pháp luật, người bào chữa;

  • Lưu HS, VT;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Đình Công

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Chúc

Lê Thị Phượng

Phan Đình Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/HSST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 90/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger