|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2025/HSST
Ngày: 18/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Bính – Cán bộ về hưu
- Ông Lê Văn Toàn – Giáo viên
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Lê Nguyễn Tuyết Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 340/2024/HSST ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Mai Văn C; Giới tính: Nam, sinh ngày 28 tháng 1 năm 2008 tại tỉnh Bình Thuận, Nơi thường trú: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Dân tộc: kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: không, Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: không, C: Mai Văn D, sinh năm 1978, Hiện trú tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Mẹ: Lê Thị Ú, sinh năm 1979, Hiện trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, A, chị, em ruột: có 03 người. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình, V, con: chưa có, Tiền án, tiền sự: không, Nhân thân: không, Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024. Đến ngày 18/7/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Nguyễn Duy N; tên gọi khác: Nam hí, B; Giới tính: Nam, sinh ngày 13 tháng 10 năm 2007 tại Bình Thuận, Nơi cư trú: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, Dân tộc: kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Thiên chúa giáo, Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: không, C: Nguyễn Đức T, sinh năm 1982, Mẹ: Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1989, Hiện trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, A, chị, em ruột: có 02 anh em. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình, V, con: chưa có, Tiền án: không, Tiền sự: ngày 22/5/2024, bị Chủ tịch UBND xã H, huyện H, tỉnh Bình
Thuận ra Quyết định xử phạt vi hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.250.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành nộp phạt vào ngày 11/6/2024.
- Hoạt động nhân thân: Ngày 25/9/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 108/2024/HSST.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Nguyễn Minh K – Sinh năm 2012
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện theo pháp luật của Nguyễn Minh K: Bà Trương Thị L1 – sinh năm 1968.
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Hồng Quốc H – Sinh năm 2012
Đại diện theo pháp luật của Nguyễn Hồng Quốc H: Bà Nguyễn Thị H1 – sinh năm 1983.
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Có mặt tại phiên tòa.
- Bà Nguyễn Thị B1 - sinh năm 1972 (vắng mặt)
Trú tại: khu phố A, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện theo pháp luật của Nguyễn Duy N:
Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1982
Trú tại: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Có mặt tại phiên tòa.
Đại diện theo pháp luật của Mai Văn C:
Ông Mai Văn D, sinh năm 1978
Trú tại: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Mai Văn C:
Bà Nguyễn Hồ Hải V1 – Luật sự cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/7/2024, tại khu vực vườn bông trên đường N thuộc phường B, thành phố P, Mai Văn C và Nguyễn Duy N đang ngồi uống nước tại quán nước bên lề đường thì nhìn thấy Nguyễn Hồng Quốc H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 86B6-458.02 chở Nguyễn Minh K đi ngang qua nên cả hai gọi H, K đến để cùng nói chuyện. Một lúc sau, C và N mượn xe mô tô 86B6-
458.02 để đi công việc thì K nói xe đó mới trộm được, đi cẩn thận”. Khi đi công việc về, C và N đề nghị mua xe mô tô 86B6-458.02 với giá 2.000.000 đồng nhưng K và H không bán do giá thấp. Lúc này N nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô 86B6-458.02 nên gọi Cảnh ra bàn bạc sẽ hù dọa K, H để chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên thì C đồng ý. Sau đó N và C quay lại nói với K, H “sao tụi mày lấy xe anh tao” thì K đáp “em không biết”. C nói tiếp “lên xe về đây tao biểu”. K nghe vậy thì sợ nên lên xe mô tô 86B6-458.02 để Cảnh, N chở về phường P, thành phố P. Khi đến đầu đường H đường V, thuộc khu phố A, phường P, thành phố P, C nói K xuống xe rồi Cảnh điểu khiển xe mô tô 86B6-458.02 chở N về nhà C. Tại đây, N đứng ở cổng chờ, C vào nhà lấy 01 cây sắt dài khoảng 2,5m, một đầu tròn, một đầu có 3 mũi nhọn rồi điểu khiển xe mô tô 86B6-458.02 chở N đến đường H, bảo N ra đầu hẻm gọi K vào gặp C để nói chuyện. Khi K vào, C hỏi K: “Sao mày lấy xe anh tao”, K đáp: “Dạ em không biết, em lỡ lấy” thì C dùng đầu tròn của cây sắt đánh 02 cái vào đầu và vào tay của K đồng thời nói “Mày đi bộ về chỗ hồi nãy đi”. Bị đánh, K không dám chống cự nên để lại mô tô 86B6-458.02 rồi đi bộ về lại đường N nơi H chờ rồi cả hai cùng đi về huyện H.
Sáng ngày 04/7/2024, N và C tháo biển số 86B6-458.02 ra khỏi xe mô tô rồi điểu khiển xe mô tô này đến vựa thu mua ve chai của bà Trần Thị P mua của bà P 01 biển số 86B3-017.89 sau đó điều khiển xe đến bờ sông C thuộc phường P lắp biển số 86B3-017.89 vào xe mô tô, vứt lại biển số 86B6-458.02 tại đây. Đến khoảng 18 giờ ngày 05/7/2024, C và N điều khiển xe mô tô gắn biển số 86B3-017.89 lưu thông trong khu vực phường P thì bị Công an phường P kiểm tra hành chính. Do N và C không xuất trình được giấy tờ liên quan đến phương tiện nên Công an phường P đưa N, C cùng phương tiện về trụ sở làm việc. Tại đây, N và C khai nhận hành vi của mình như nêu trên.
Về nguồn gốc xe mô tô biển số 86B6-458.02, Nguyễn Hồng Quốc H và Nguyễn Minh K khai như sau: Khoảng 20 giờ ngày 03/7/2024, H rủ K đi bộ trên đường L thuộc khu đô thị P ở khu phố H, phường P, thành phố P để tìm tài sản trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài thì phát hiện trên lề đường này có để 01 chiếc xe mô tô hiệu Yahama Sirius, biển số 86B6-458.02 của em Ngô Gia B2, trên xe có cắm sẵn chìa khóa, không có ai trông coi nên H nói với K “mày đứng canh đi, để tao lấy xe” thì K đồng ý. K đứng cảnh giới, H lén lút đi đến mở khóa, khởi động máy rồi điều khiển xe mô tô 86B6-458.02 chở K đến khu vực vườn bông trên đường N thuộc phường B, thành phố P tìm nơi tiêu thụ thì bị N và C chiếm đoạt như nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- - Nguyễn Duy N giao nộp: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đỏ - đen; số máy: E32VE175279; số khung: 3720LY034474 có gắn biển số 86B3-017.89.
- - Mai Văn C giao nộp 01 cây sắt dài 2,62m, phần mũi có ba đầu nhọn, một đầu ở giữa dài 41cm, hai đầu hai bên dài 33,5 cm và 01 biển số xe mô tô 86B6 - 458.02 (sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, C đã đến khu vực bờ sông thuộc phường P tìm lại biển số 86B6-458.02 để giao nộp cho Cơ quan Công an).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 191/KL-HĐĐGTS ngày 09/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
xe mô tô biển số 86B6-458.02, hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đỏ - đen; số máy: E32VE175279; số khung: 3720LY034474 (biển số 86B6-458.02 đã được các đối tượng gỡ bỏ và gắn biển số 86B6 - 458.02), đã qua sử dụng, hoạt động bình thường, có giá vào thời điểm định giá (ngày 03/7/2024) là 4.000.000 đồng.
Xử lý vật chứng:
01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius và 01 biển số xe mô tô 86B6 - 458.02, đây là tài sản của bà Nguyễn Thị B1. Đêm 03/7/2024, bà B1 cho em Ngô Gia B2 mượn xe mô tô trên đến đường L thuộc khu đô thị P ở khu phố H, phường P, thành phố P chơi thì bị K và H trộm cắp, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà B1. Bà B1 đã nhận lại tài sản trên và không yêu cầu gì về dân sự.
Đối với biển số 86B3-01789, quá trình điều tra xác định biển số này được cấp cho xe mô tô hiệu SYM, loại Attila, màu sơn: đỏ, số khung: RLGKA12GDBD065417; số máy: VMVTBAD065417, do ông Nguyễn Thiên C1 đứng tên sở hữu. Năm 2021, ông C1 đã bán cho tiệm ve chai xe mô tô trên kèm biển số do xe không còn sử dụng được.
Hiện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển biển số 86B3-01789 và 01 cây sắt đã thu giữ (là hung khí C sử dụng để dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt xe mô tô 86B6-458.02 từ K) đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.
Cáo trạng số 338/CT-VKS ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Mai Văn C và Nguyễn Duy N về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi theo đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố và thừa nhận khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/7/2024, tại khu vực công viên đường N, C và N đề nghị mua xe mô tô biển số 86B6-458.02 do H và K trộm. Do K, H không đồng ý bán nên N yêu cầu C chiếm đoạt chiếc xe trên của H, nên tại hẻm E V, thuộc khu phố A, phường P, thành phố P, C dùng 01 cây sắt dài khoảng 2,5m, một đầu nhọn, một đầu tròn đánh 02 cái vào đầu và tay K làm K bị tê liệt ý chí, không dám chống cự rồi Cảnh, N chiếm đoạt xe mô tô 86B6-458.02.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo, bị hại và người làm chứng đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo Mai Văn C và Nguyễn Duy N đã phạm tội “Cướp tài sản” được quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm d, e khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 01 Điều 51, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Mai Văn C mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
Áp dụng: điểm d, e khoản 2 Điều 168, điểm o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 01 Điều 51, Điều 56, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Duy N mức án từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng tù và tổng hợp 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 108/2024/HSST của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy biển số 86B3-01789 và 01 cây sắt đã thu giữ là hung khí C sử dụng để dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt xe mô tô 86B6-458.02 từ Khôi tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.
Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius và 01 biển số xe mô tô 86B6 - 458.02, đây là tài sản của bà Nguyễn Thị B1. Đêm 03/7/2024, bà B1 cho em Ngô Gia B2 mượn xe mô tô trên đến đường L thuộc khu đô thị P ở khu phố H, phường P, thành phố P chơi thì bị K và H trộm cắp, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà B1. Bà B1 đã nhận lại tài sản trên và không yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
Người bào chữa của bị cáo Mai Văn C trình bày: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh vì hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cướp tài sản”, về mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị là cao vì bị cáo Mai Văn C, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không được cha mẹ quan tâm từ nhỏ, nhất thời phạm tội và đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Mai Văn C là người đủ 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi nên áp dụng Chương XII của Bộ luật Hình sự quy định đối với người 18 tuổi phạm tội khi xử lý, vì vậy đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt tới múc thấp nhất cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo là vị thành niên.
Nói lời sau cùng: Các bị cáo xác định cáo trạng truy tố là không oan sai, bị cáo không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/7/2024, tại khu vực công viên đường N thuộc phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Mai Văn C và
Nguyễn Duy N đề nghị mua xe mô tô hiệu Yahama Sirius, biển số 86B6-458.02 do Nguyễn Hồng Quốc H và Nguyễn Minh K trộm cắp của em Ngô Gia B2 mà có. Do K, H không đồng ý bán nên N yêu cầu C chiếm đoạt chiếc xe trên của H, khi C, N điều khiển xe mô tô 86B6-458.02 chở K về hẻm E V, thuộc khu phố A, phường P, thành phố P, thì C dùng 01 cây sắt dài khoảng 2,5m, một đầu nhọn, một đầu tròn đánh 02 cái vào đầu và tay K làm K bị tê liệt ý chí, không dám chống cự rồi Cảnh, N chiếm đoạt xe mô tô 86B6-458.02 từ Khôi.
N và C dùng hung khí 01 là cây sắt đánh làm cho K sợ không dám chống cự để chiếm đoạt tài sản, tại thời điểm bị N và C chiếm đoạt tài sản, K dưới 16 tuổi nên hành vi của N và C thuộc trường hợp “sử dụng thủ đoạn nguy hiểm” và “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi”, là các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt được quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Từ căn cứ nêu trên xét thấy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đối với các bị cáo là có căn cứ, đủ cơ sở kết luận bị cáo Mai Văn C và Nguyễn Duy N phạm tội “Cướp tài sản” được quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương, do vậy cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mai Văn C có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Duy N có nhân thân xấu, N đã có hành vi xúi giục Mai Văn C là người dưới 18 tuổi phạm tội nên N phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Mai Văn C và Nguyễn Duy N thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Mai Văn C và Nguyễn Duy N là người đủ 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi nên áp dụng Chương XII của Bộ luật Hình sự quy định đối với người 18 tuổi phạm tội khi xử lý.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét đến nhân thân của các bị cáo xét thấy cần phải xử lý và áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh chống tội phạm.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy biển số 86B3-01789 và 01 cây sắt đã thu giữ là hung khí C sử dụng để dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt xe mô tô 86B6-458.02.
Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius và 01 biển số xe mô tô 86B6 - 458.02, đây là tài sản của bà Nguyễn Thị B1, vào đêm ngày 03/7/2024, bà B1 cho em Ngô Gia B2 mượn xe mô tô trên đến đường L thuộc khu đô thị P ở khu phố H, phường P,
thành phố P chơi thì bị K và H trộm cắp, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà B1. Bà B1 đã nhận lại tài sản trên và không yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
[7] Bị cáo phải nộp tiền án phí và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 168, điểm o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Nguyễn Duy N phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Duy N 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù và tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2024/HSST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 09/7/2024.
-
Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Mai Văn C phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt: Mai Văn C 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án. Thời gian bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến ngày 18/7/2024 được khấu trừ vào thời gian thi hành án.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy biển số 86B3-01789 và 01 cây sắt đã thu giữ là hung khí C sử dụng để dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt xe mô tô 86B6-458.02 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 81 ngày 16/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo C, và N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo, bị hại, đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (18/3/2025) đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nguyễn Bính Lê Văn T1 |
Nguyễn Lưu Triều |
Bản án số 90/2025/HSST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUÂN về cướp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 90/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUÂN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: MAI VĂN C, NGUYỄN DUY N PHẠM TỘI CƯỚP TÀI SẢN
