|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2025/HSPT. Ngày: 11/6/2025. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung | |
| Thẩm phán: | Bà Lê Thị Phương Thanh |
| Bà Trương Thị Anh |
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Xuân Tú – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Hiếu – Kiểm sát viên
Ngày 11/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 124/2025/HSPT ngày 07/5/2025 đối với bị cáo Lê Xuân H, do có kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HSST ngày 27/3/2025 của TAND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo kháng cáo:
Lê Xuân H; sinh ngày 06 tháng 10 năm 2009; tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; số CCCD: [...]; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Xuân M; con bà: Nguyễn Thị P; Tiền án, tiền sự: Không; được giao cho người đại diện giám sát kể từ ngày 07/10/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Chị Nguyễn Thị P; sinh năm: 1990; nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Buôn bán. Là mẹ đẻ của bị cáo. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Ngọc H1, Trợ giúp viên pháp lý, chi nhánh T pháp lý số 02, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
- Bị hại: Cháu Bùi Thị D; sinh ngày: 26/8/2011; HKTT: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lê Thị X; sinh năm: 1989; HKTT: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Là mẹ của bị hại. Vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị Thu V, Trợ giúp viên pháp lý, chi nhánh T pháp lý số 02, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng giữa tháng 7/2024, thông qua mạng Facebook Lê Xuân H, sinh ngày 06/10/2009 trú tại khu phố N, thị trấn N, huyện N quen và kết bạn với cháu Bùi Thị D, sinh ngày 26/8/2011 trú tại thôn N, xã C, huyện C. Ngày 28/7/2024, H và cháu D gặp nhau trong buổi sinh nhật cháu Phạm Nhật L, sinh năm 2007 ở xã C, huyện C. Đến ngày 31/7/2024, H và cháu D tiếp tục gặp nhau tại nhà cháu Trịnh Nam K, sinh năm 2007 ở thị trấn P, huyện C. Sau hai lần gặp nhau và nhắn tin qua lại thì phát sinh tình cảm, nhận lời yêu nhau. Tối ngày 03/8/2024, H nhắn tin rủ cháu D đi chơi, cháu D đồng ý và khi cháu D đang đi uống nước với mẹ ở quán trà sữa thuộc xã C, huyện C thì H điều khiển xe mô tô đến đón cháu D. Khi H đến cháu D nói dối mẹ là đi ra ngoài để lấy áo phông nhưng thực lế là gặp H, rồi lên xe mô tô với H chở đến nhà H, rồi đến nhà cháu Lê Văn C trú tại khu phố X, thị trấn N chơi. Đến khoảng 00 giờ ngày 04/8/2024, H dẫn cháu D đi vào nhà nghỉ T1 thuộc khu phố Q, thị trấn N thuê phòng nghỉ. Sau đó, H quan hệ tình dục với cháu D. Đến sáng ngày 04/8/2024, H đưa cháu D về nhà.uyHuy Đến ngày 07/8/2024, cháu D kể lại việc có quan hệ tình dục với H, nên chị X (mẹ đẻ cháu D) đến Công an huyện N báo cáo vụ việc.
Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 6037/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của V1 Bộ C1, kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- Tình trạng bộ phận sinh dục: Màng trinh rách mới vị trí 07 giờ; các phần còn lại không tổn thương.
- Kết quả khám chuyên khoa Cận lâm sàng: Tử cung và phần phụ hai bên bình thường, trong buồng tử cung không có thai và tổ chức thai; Test Beta HCG nước tiểu: âm tính.
2. Kết quả tình trạng bộ phận sinh dục của cháu Bùi Thị D: Màng trinh rách mới vị trí 07 giờ; các phần còn lại không tổn thương”.
Tại Công văn số 2628/C09-TT1 ngày 11/9/2024 của V1 Bộ C1 trả lời: Tại thời điểm giám định ngày 08/8/2024, xác định: tổn thương rách màng trinh tại vị trí 07 giờ từ bờ tự do đến sát gốc màng trinh, xung quanh có bầm tụ máu; không có chảy máu, vết bầm tụ máu chưa thoái triển nên tổn thương này là tổn thương mới phù hợp với thời điểm xảy ra vụ việc vào đêm ngày 03/8/2024 và rạng sáng ngày 04/8/2024.
Tại bản Kết luận giám định số 3181/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Trên các mẫu gửi giám định không tìm thấy tinh trùng người.
Tại Kết luận giám định số 4508/KL-KTHS ngày 25/11/2024 của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 (ba) tệp video của 01 (một) thẻ nhớ gửi giám định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và chị X thống nhất bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng), bị cáo đã bồi thường 10.000.000đ, số tiền còn lại được trừ vào số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc theo Biên lai thu tiền số 0001008 ngày 13/3/2025. Công nhận bị cáo đã bồi thường đủ cho bị hại.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HSST ngày 27/3/2025 của TAND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 BLHS:
Tuyên bố: Lê Xuân H phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Xử phạt: Lê Xuân H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
* Ngày 08/4/2025, bị cáo Lê Xuân H và đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Lê Xuân H và đại diện hợp pháp của bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX phúc thẩm: Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355; Điểm e Khoản 1 Điều 357 BLTTHS: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo. Giữ nguyên hình nhưng cho bị cáo Lê Xuân H được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo không phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Lê Xuân H và đại diện hợp pháp của bị cáo có đơn xin kháng cáo bản án sơ thẩm, đơn kháng cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Xuân H và đại diện hợp pháp của bị cáo thấy rằng:
Khoảng 00 giờ ngày 04/8/2024, Lê Xuân H rủ cháu Bùi Thị D, sinh ngày 26/8/2011 đến nhà nghỉ T1 ở khu phố Q, thị trấn N, huyện N thuê phòng, sau đó H giao cấu với cháu D. Tại thời điểm giao cấu cháu Bùi Thị D mới có 12 tuổi 11 tháng 08 ngày, bị cáo đã phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, thể chất, tinh thần và sự phát triển bình thường của người bị hại, ảnh hưởng đến quá trình phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ dưới 16 tuổi. Hành vi của Lê Xuân H vi phạm luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em cũng như quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em, gây ảnh hưởng xấu đế trật tự trị an địa phương, thuần phong mỹ tục và nếp sống văn hóa dân tộc. Xét mức hình phạt 36 tháng tù của bị cáo đã phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội nên không chấp nhận kháng xin giảm nhẹ.
Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng, ngoài những tình tiết giảm nhẹ án sơ thẩm đã nhận định như: bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tham gia thiện nguyện, ủng hộ tại địa phương, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, thì tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo xuất trình xác nhận của chính quyền địa phương, trước khi xảy ra vụ án này, bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bị cáo tiếp tục tham gia hướng ứng phong trào thiện nguyện đóng góp trồng cây xanh do đoàn thanh niên phát động và đóng góp quỹ hội chữ thập đỏ hỗ trợ làm nhà cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới ở giai đoạn phúc thẩm theo Khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo là người chưa thành niên, tại thời điểm phạm tội bị cáo đang trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, giữa bị cáo và bị hại quan hệ với nhau xuất phát từ chuyện yêu đương và tò mò giới tính. Theo nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, nên thống nhất với quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo, giữ nguyên hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, tiếp tục việc học tập, rèn luyện, điều đó cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[3] Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận một phần, nên bị cáo Lê Xuân H và đại diện hợp pháp của bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
Vì các lẽ trên
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355; Điểm e Khoản 1 Điều 357 BLTTHS.
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Xuân H và đại diện hợp pháp của bị cáo. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HSST ngày 27/3/2025 của TAND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt của bị cáo H.
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2 Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 BLHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Lê Xuân H phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Xử phạt: Lê Xuân H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Xuân H cho UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giáo dục và Công an thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát trong thời gian thử thách.
Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại điều 92 Luật THA hình sự 2019.
Bị cáo được hưởng án treo trong thời gian thử thách cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của BLHS.
2, Án phí: Bị cáo Lê Xuân H và đại diện hợp pháp của bị cáo không phải nộp án phí HSPT
3, Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Thị Dung |
Bản án số 90/2025/HSPT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 90/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân H "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi"
