1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 90/2025/HS-ST Ngày: 26 - 5 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH
DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hoa Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thu
Bà Nguyễn Thị Túy Phượng.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng N - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Ngọc C, sinh ngày 14/01/2006, tại Bình Dương; Số căn cước công dân: [...] cấp ngày 23/4/2021; Nơi thường trú: 116/6, đường L, tổ G, khu F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/9/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng:
Bị hại: Lê Thị Thanh T, sinh năm 2007; địa chỉ: Tổ I, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị V, sinh năm 1975 và ông Lê Huy V1, sinh năm 1973; địa chỉ: địa chỉ: Tổ 1, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Đào Xuân L1, sinh năm 1979; địa chỉ: 3 khu D, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
- Ông Huỳnh Minh T1, sinh năm 2005; địa chỉ: Tổ E, khu phố V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
- Bà Đinh Thị Thu R, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ E, khu phố V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
2
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; địa chỉ 116/6 đường L, tổ G, khu F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn N1, ông Bùi Hoàng V2, ông Trường Văn T2. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Ngọc C từng là nhân viên tại quán C1 thuộc ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trong quá trình làm việc tại đây C biết Lê Thị Thanh T là nhân viên của quán có sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu đen nên C nảy sinh ý định cướp giật điện thoại của T để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ. C biết việc khi khách đến quán uống nước và trả tiền bằng hình thức chuyển khoản thì nhân viên sẽ dùng điện thoại cá nhân chụp lại thông tin khách chuyển khoản nên lợi dụng cách thức này để thực hiện hành vi phạm tội.
Vào tối ngày 29/8/2024, C liên hệ với bạn là Huỳnh Minh T1 qua ứng dụng Messenger để nhờ T1 ngày 30/8/2024 đến nhà chở C đi công việc, C sẽ trả công cho T1 200.000 đồng, T1 đồng ý. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 30/8/2024, C nhắn tin qua ứng dụng M yêu cầu T1 đến nhà C và nói T1 mang theo 01 áo khoác cho C mượn.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/8/2024, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vario màu trắng biển số 61E1-915.38 đi đến nhà của C, C nói với T1 chở C đi đến quán C1 vì có người phụ nữ đang lưu clip nhạy cảm của chị C trong điện thoại nên lấy điện thoại về để xóa clip đi, bà chị sẽ trả cho C 500.000 đồng và C trả cho T1 200.000 đồng thì T1 đồng ý. Đồng thời C nói T1 khi đến quán thì dừng xe trước quán và nổ máy xe chờ sẵn, khi C lấy được điện thoại thì sẽ bỏ chạy. Đồng thời C mượn điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh của T1 để sử dụng và mặc áo khoác màu đen của T1 cho mượn để tránh bị phát hiện.
Khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô chở C đến quán C1 và dừng xe chờ ở ngoài như đề nghị của C. C đi bộ vào khu vực quầy thu ngân gặp Lê Thị Thanh T và dùng tay chỉ vào menu để gọi 02 ly nước. Sau khi gọi nước xong C lấy điện thoại di động của T1 cho mượn ra để giả vờ thanh toán tiền nước bằng hình thức chuyển khoản và đưa điện thoại ra để T chụp màn hình chuyển khoản thành công. Ngay khi T lấy điện thoại di động nhãn hiệu lphone 13 Promax màu đen và cầm trên tay để kiểm tra việc thanh toán tiền của C thì C liền dùng tay giật lấy điện thoại trên tay của T sau đó chạy bộ ra xe mô tô nơi T1 chờ sẵn và lên xe để T1 chở C bỏ đi khỏi hiện trường. T tri hô “Cướp” và chạy bộ đuổi theo nhưng không kịp.
T1 điều khiển xe mô tô chở C về nhà của C, khi đến trước cổng nhà T1 hỏi C đã xóa được clip chưa để mang điện thoại trả lại thì C nói đang chờ bà chị gửi mật khẩu qua rồi xóa, do bận đi làm nên T1 điều khiển xe bỏ đi. Sau đó, C đến Cửa hàng điện thoại Đào Long S, đường C thuộc phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp ông Đào Xuân L1 và nói dối do người yêu ghen tuông không cho xài điện thoại nên đã đổi mật khẩu và yêu cầu ông L1 mở khóa mật khẩu giúp. Tuy nhiên, ông L1 không mở khóa được mật khẩu điện thoại nên C đã bán điện thoại với số tiền 3.500.000 đồng. Số tiền này C đã dùng để trả nợ hết 2.980.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết 520.000 đồng. Đến tối cùng ngày C chuyển khoản trả cho T1 số tiền 200.000 đồng.
3
Cùng ngày, bà Lê Thị Thanh T đã đến Công an xã A trình báo. Ngày 31/8/2024, Nguyễn Thị Ngọc C đến Công an xã A đầu thú. Ông Đào Xuân L1 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu đen.
Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím (thu giữ của Nguyên Thị Ngọc C). 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu đen của T1.
Tại biên bản và bản kết luận định giá tài sản ngày 05/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu đen trị giá 15.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 91/CT-VKS -TA ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc C về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện viện kiểm sát trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đối chiếu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc C mức hình phạt từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù.
Đối với ông Đào Xuân L1, quá trình điều tra xác định ông L1 không biết chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu đen mà C bán cho ông L1 là do C cướp giật mà có. Ông L1 đã tự nguyện giao nộp điện thoại cho Cơ quan điều tra, do đó Cơ quan điều tra không để cập xử lý đối với Đào Xuân L1.
Đối với Huỳnh Minh T1, quá trình điều tra xác định T1 không biết mục đích của C nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại, T1 cũng không được hưởng lợi từ số tiền C bán điện thoại di động. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Huỳnh Minh T1.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu đen, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của Lê Thị Thanh T nên Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại điện thoại cho T. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh thu giữ của Huỳnh Minh T1. Quá trình điều tra xác định T1 không biết mục đích của C sử dụng điện thoại của T1 để đánh lạc hướng nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại, do đó cần trả lại cho T1.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu trắng đen, biển số 61E1-915.38 quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Đinh Thị Thu R là mẹ của Huỳnh Minh T1. Ngày 30/8/2024, T1 mượn xe mô tô của bà R để đi làm sau đó chở C đi thực hiện hành vi phạm tội thì bà R không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho bà Đinh Thị Thu R.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím thu giữ của bị cáo C, quá trình điều tra xác định C sử dụng để liên lạc với T1 hẹn T1 chở đi thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị Thanh T không yêu cầu bồi thường do đã nhận lại điện thoại. Bà Nguyễn Thị L là mẹ ruột của bị cáo C đã bồi thường cho ông Đào Xuân L1 số tiền 3.500.000 đồng, bà L không yêu cầu bị cáo C trả lại số
4
tiền trên. Ông Đào Xuân L1 đã nhận số tiền 3.500.000 đồng và không có yêu cầu gì khác.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, xin cho bị cáo được hưởng án nhẹ nhất để có điều kiện đi làm vì gia đình khó khăn, chỉ có bị cáo và mẹ bị cáo sống cùng nhau.
- Đại diện hợp pháp của bị hại và bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn xin vắng mặt đại diện của bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà L không tranh luận, không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền mà bà đã trả cho ông L1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có yêu cầu xét xử vắng mặt, những người làm chứng vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp với Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc C khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 30/8/2024, tại quán C1 thuộc ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thị Ngọc C có hành vi dùng tay giật 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu đen trị giá 15.000.000 đồng của bị hại Lê Thị Thanh T. Hành vi của bị cáo C đã trực tiếp xâm phạm đến quyên sở hữu hợp pháp tài sản của bị hại T được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, bản cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc C phạm tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự chung của xã hội, gây tâm lý hoang mang trong cộng đồng, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
5
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu; bị cáo ra đầu thú; tài sản đã thu hồi và giao trả cho bị hại, đại diện bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương đối cao, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51, không có tình tiết tăng nặng, nên Hội đồng xét xử xem xét và xử bị cáo mức thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, cố gắng cải tạo tốt.
[7] Đối với ông Đào Xuân L1, quá trình điều tra xác định ông L1 không biết chiếc điện thoại di động C bán cho ông L1 là do C cướp giật mà có. Ông L1 đã tự nguyện giao nộp điện thoại cho Cơ quan điều tra, do đó Cơ quan điều tra không xử lý đối với Đào Xuân L1 là có căn cứ.
Đối với Huỳnh Minh T1, quá trình điều tra xác định T1 không biết mục đích của C nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại, T1 cũng không được hưởng lợi từ số tiền C bán điện thoại di động chiếm đoạt của bị hại. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Huỳnh Minh T1 là có căn cứ.
[8] Về trách nhiệm dân sự, vật chứng:
Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên xem như trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong.
Bà Nguyễn Thị L là mẹ ruột của bị cáo C đã bồi thường cho ông Đào Xuân L1 số tiền 3.500.000 đồng, bà L không yêu cầu bị cáo C trả lại số tiền trên nên ghi nhận. Ông Đào Xuân L1 đã nhận số tiền 3.500.000 đồng và không có yêu cầu gì khác nên đã giải quyết xong.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh thu giữ của Huỳnh Minh T1. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, do đó cần trả lại cho ông T1.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu trắng đen, biển số 61E1-915.38 thuộc sở hữu của bà Đinh Thị Thu R là mẹ của Huỳnh Minh T1. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho bà Đinh Thị Thu R là phù hợp.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím thu giữ của bị cáo C, xác định đây là phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 171; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Các điều 47, 48, 136, 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
6
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không.
4. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím, dung lượng 64GB, số IMEI 356868112798087, số máy MH8H3LL/A, số seri F4GF6S9SN72N kèm sim số 0342582316.
- Trả cho Huỳnh Minh T1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, dung lượng 512GB, số IMEI 353075110591414, số máy MGK03LL/A, số seri G6TDH02F0D8F kèm sim số 0819823068.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An ngày 28/4/2025).
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoa Hạnh |
Bản án số 90/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 90/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BC CHAU CUOP GIAT DIEN THOAI
