Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 90/2025/HS-ST

Ngày: 25/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Thoa

Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Hồng Tươi
  • 2. Ông Đinh Quang Tuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Trần Tiến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại Toà án nhân dân khu vực 2 - An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 86/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2025/QĐXXST-HS ngày 14/11/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu T, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2002

Giới tính: Nam.

Nơi sinh: Tân Hiệp, An Giang

Căn cước công dân: [...] cấp ngày 11/8/2022

Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: Khu phố G A, đặc khu P, tỉnh An Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 06/12;Nghề nghiệp: Không.

Cha: Nguyễn Hữu N, sinh năm 1976, còn sống.

Mẹ: Nguyễn Thị Bé P, sinh năm 1985, còn sống.

Em: 02 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2007.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 28/8/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số: 147/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 03/5/2025.

Tạm giữ, tạm giam: Ngày 14/7/2025

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Bà Ngô Thị X, sinh năm 1988

Địa chỉ: Khu phố G A, đặc khu P, tỉnh An Giang

(Bị hại có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khoảng 01 giờ ngày 13/7/2025 Nguyễn Hữu T từ nhà của T qua nhà của mợ T là bà Ngô Thị X (phía trước cửa nhà của T) thuộc khu phố G A, đặc khu P, tỉnh An Giang để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến trước cửa chính, T vặn tay nắm thấy cửa không khóa, T vào nhà, đi ra phía sau thấy chiếc xe hiệu Honda, loại Vision của bà X đang đậu cạnh bếp, còn ghim sẵn chìa khóa, lợi dụng sơ hở, không ai trông coi, T mở cốp xe thấy bọc tiền nên đã lấy bỏ vào túi quần đi về nhà đếm được 22.000.000 đồng xong T đi ngủ. Đến khoảng 07 giờ ngày 13/7/2025, T sử dụng 1.500.000 đồng để sửa xe cho bà P (mẹ T), do bà P không ở nhà nên không biết T đem xe đi sửa, số tiền còn lại 20.500.000 đồng Tính tiếp tục cất giấu trong túi quần.

Ngày 14/7/2025, nghe tin bà X trình báo sự việc đến cơ quan Công an nên Nguyễn Hữu T đến Công an đặc khu P1 đầu thú và giao nộp số tiền 20.500.000 đồng. Ngày 17/7/2025, Nguyễn Hữu T bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an tỉnh A khởi tố, tạm giam để điều tra.

Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • - 20.500.000 đồng tiền Việt Nam gồm: 70 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng và 13 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng.

Cáo trạng của Viện kiểm sát:

  • - Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKSKV2 ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • - Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Hữu T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

  • - Về xử lý vật chứng:
  • - 20.500.000 đồng tiền Việt Nam gồm: 70 tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng và 13 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng, đã giao trả cho chủ sở hữu.
  • - Về trách nhiệm dân sự:
  • Bị hại đã nhận lại 20.500.000 đồng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa: Bị cáo không có ý kiến gì đối với bản Cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời không tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên và đồng ý với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, số tiền bị cáo trộm cắp là 22.000.000 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hữu T, do có nhu cầu tiêu xài cá nhân nên T đã lén lút vào nhà của bà Ngô Thị X tại Khu phố G A, đặc khu P, tỉnh An Giang lấy trộm của bà X số tiền là 22.000.000 đồng nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, điều khoản có mức hình phạt từ cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo lấy trộm tài sản của người khác mục đích là để tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo là cố ý xâm phạm đến quyền về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này. Đối với bị cáo vào năm 2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã chấp hành xong, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho việc chấp hành nghiêm pháp luật mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo; Tài sản bị cáo trộm cắp đã trả lại cho chủ sở hữu; Bị cáo phạm tội gây thiệt hại cho chủ sở hữu không lớn; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ được uy định tại điểm s; b; h; i khoản 1 Điều 51 BLHS. Tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Khi bị cáo biết việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nên đã ra đầu thú nên cần áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt khi lượng hình cho bị cáo. Bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2025 đến nay là 04 (bốn) tháng 11 (mười một) ngày nên cũng cần áp dụng khoản 3 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo bằng mức tạm giam cũng đủ răn đe giáo dục. Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo tại phiên toà.

[5]. Về xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án đã trao trả cho chủ sở hữu trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[7]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Kiểm sát viên đề nghị về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng pháp luật:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b; h; i; s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Hữu T: 04 (bốn) tháng 11 (mười một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 14/7/2025, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trả tự do cho bị cáo tại phiên toà.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

3/ Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

4/ Quyền kháng cáo:

Án xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 2 – An Giang;
  • - Phân trại tạm giam Phú Quốc;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ C.an tỉnh AG;
  • - Phòng THADS khu vực 2 - An Giang;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thị Kim Thoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 90/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hữu T thực hiện hành vi trộm cấp tài sản của Ngô Văn X
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger