|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 90/2025/HS-ST
Ngày: 15-4-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Quang Cảnh
- Ông Nguyễn Văn Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Ngọc C – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:115/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Phương T, sinh năm 2001, tại Tiền Giang; Thường trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi ở: 1 N, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Giảng Ngọc L; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án: không, tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2024 – Có mặt
2/ Lê Thanh P1, sinh năm 2001, tại An Giang; Thường trú: tổ G, khóm N, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; nơi ở: A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh P2 và bà Phạm Thị Kim H; hoàn cảnh gia đình: Có vợ và 02 con lớn sinh năm 2023, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án: không, tiền sự: không, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2024 – Có mặt
- Bị hại: Công ty G.
Địa chỉ: 4 X, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1995
Địa chỉ: D lô G chung cư L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. – Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Văn P3, sinh năm
Địa chỉ: 1 N, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. – Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần G, MSDN: 0311907295, địa chỉ số D X, phường B, quận B (gọi tắt là Công ty G) hoạt động trên lĩnh vực bưu chính, logistic, cụ thể là giao hàng thương mại điện tử, bưu chính, chuyển phát. Theo đó, khi khách hàng có nhu cầu vận chuyển hàng hóa, bưu gửi thì khách hàng sẽ tạo đơn hàng trên hệ thống của Công ty theo địa chỉ W là “https://khachhang.ghn.vn”. Sau khi nhận được đơn của khách, nhân viên Công ty sẽ đến địa chỉ của khách hàng để nhận hàng và giao đến cho người nhận. Trường hợp, đơn hàng của khách có yêu cầu thu tiền từ người nhận hàng thì Công ty sẽ thu tiền và hoàn trả lại cho khách hàng.
Ngày 15/03/2023, Công ty G có ký hợp đồng dịch vụ số [CN] 3466064 – CÔNG TY TNHH MTV H1 GHN/2023/13 ngày 15/03/2023 với Công ty TNHH MTV H1, tầng 9, tòa nhà S, số H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội (gọi tắt là Công ty H1) về việc Công ty G đồng ý cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa, bưu gửi từ địa điểm nhận hàng đến địa điểm giao hàng mà Công ty H1 chỉ định. Theo đó, Công ty H1 chỉ định Công ty G đến lấy hàng tại điểm nhận hàng là Kho Công ty A số Lô 18 đường số D, KCN T, phường T, quận B (Công ty A là đối tác với Công ty H1, có trách nhiệm bảo quản hàng hóa của Công ty H1 tại kho, đóng gói, giao cho Công ty G, nhận hàng hoàn về lưu tại kho).
Nguyễn Văn T1 là quản lý khu vực của Công ty G, công việc cụ thể của T1 là quản lý toàn bộ hoạt động giao nhận hàng hóa của Công ty trên địa bàn quận T, quản lý nhân viên, quản lý toàn bộ hoạt động xuất, nhập hàng tại địa điểm kinh doanh số 146 (bưu cục) thuộc Công ty G địa chỉ số B T, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Phương T và Hoàng Tấn Nghĩa là nhân viên giao nhận của Công ty G, làm việc tại bưu cục B và là nhân viên cấp dưới của T1. Công việc cụ thể của T và Nghĩa là nhận lệnh Công ty đi lấy hàng từ người gửi, cập nhật lên hệ thống và bàn giao hàng về cho Công ty. Nguyễn Thị Thảo L2 và Lê Thanh P1 là nhân viên cũ của Công ty G. Trong đó, L2 là em của Nguyễn Văn T1 và là vợ của Hoàng Tấn N.
Vào đầu tháng 02/2023, P1 (đã nghỉ việc) được T1 gọi về hỗ trợ làm công việc đi lấy hàng từ người gửi đem về bưu cục 20/48A Tân Thắng theo sự chỉ định của T1 và T1 trả công riêng là 4.500.0000 đồng/tháng. Do T1 thuê riêng P1 nên Công ty G Hàng N1 không biết và P1 không được hưởng bất kỳ chính sách lao động nào của Công ty. Khoảng cuối tháng 10/2023, T1 liên hệ với T bảo T đưa mã nhân viên và mật khẩu cùng với tài khoản lương của T cho P1 để T1 và P1 làm việc riêng và T1 sẽ trả tiền lương riêng cho T 16.000.000 đồng/tháng (chia làm hai hai đợt, vào các ngày 05 và 20 của tháng, mỗi đợt 8.000.000 đồng). Đồng thời, T1 dặn T sau này P1 kêu gì thì làm nấy, thấy không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của mình và cũng không quan tâm đến công việc riêng của T1 và P1 nên T đồng ý và không có thắc mắc gì.
Đến sáng ngày 04/11/2023, T1 gọi P1 ra quán uống nước và bàn bạc, hướng dẫn P1 đến kho hàng Công ty A để lấy hàng rồi mang về nhà T1 để T1 chiếm đoạt tiêu xài cá nhân và T1 sẽ trả công thêm cho bị can P1, do muốn có thêm tiền nên P1 đồng ý. Đồng thời, T1 nói có Nghĩa tham gia và yêu cầu P1 kêu T cùng tham gia. Sau đó, P1 trao đổi với T về việc T đến kho Công ty A lấy hàng nhưng không đem về bưu cục mà chở thẳng đến trước hẻm D T, phường T, quận T, đưa cho P1 để P1 chở vào đưa cho T1 xử lý rồi sẽ chở về bưu cục sau. Lúc này, T biết là nhóm của P1 và T1 có ý định chiếm đoạt số hàng hóa lấy từ kho hàng Công ty A nhưng vẫn đồng ý thực hiện. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào sáng ngày 04/11/2023, theo yêu cầu của P1, T đến kho hàng Công ty A lấy 68 đơn hàng (chưa ký nhận) rồi đem đến trước hẻm D T, phường T, quận T giao cho P1. Sau đó, P1 chở vào nhà T1 để cùng T1 và N đánh tráo 19 đơn hàng bằng cách bóc dỡ nhãn dán vận đơn của tài khoản Công ty H1, cập nhật hủy đơn hàng và dán nhãn vận đơn mới của tài khoản “K” (ID: 2676524; Tài khoản ngân hàng nhận tiền COD: 291000344940 tên Nguyễn Thị Thảo L2 mở tại ngân hàng V) do T1 tạo lập (vẫn giữ thông tin người nhận, chỉ thay thông tin người gửi nhằm chiếm đoạt 19 đơn hàng này). Sau khi đánh tráo, N đem 19 đơn hàng trên cùng 49 đơn hàng còn lại về nhập vào bưu cục 20/48A Tân Thắng.
Trong 19 đơn hàng bị can T1 dự định chiếm đoạt này thì có 14 đơn hàng đã được Công ty G giao thành công đến cho người nhận và đã chuyển tiền thu hộ vào tài khoản “Kho Thực Phẩm Sức Khỏe”, 02 đơn hàng hoàn về cho T1, 03 đơn hàng vẫn còn lưu tại bưu cục 20/48A Tân Thắng. T1 đã chiếm đoạt được 16/19 đơn hàng đã đánh tráo với tổng số tiền hàng là 32.230.000 đồng.
Lần thứ hai: Vào sáng ngày 05/11/2023, P1 và N đến kho hàng Công ty A lấy 78 đơn hàng (P1 là người ký nhận lên biên bản bàn giao) rồi cùng chở vào nhà T1 để cùng T1 và N đánh tráo 09 đơn hàng với thủ đoạn tương tự như trên. Sau khi đánh tráo, N đã đem 09 đơn hàng trên cùng 69 đơn hàng còn lại về nhập vào bưu cục 20/48A Tân Thắng. T1 đã chiếm đoạt được 09 đơn hàng đã đánh tráo với tổng số tiền hàng là 18.900.000 đồng.
Lần thứ ba: Vào sáng ngày 06/11/2023, P1 đến kho hàng Công ty A lấy 48 đơn hàng (P1 là người ký nhận lên biên bản bàn giao) rồi chở thẳng về nhập vào bưu cục 20/48A Tân Thắng. Sau đó, bị can T1 và bị can N đã tự đánh tráo 05 đơn hàng với thủ đoạn tương tự như trên và P1 hoàn toàn không biết việc này.
Trong 05 đơn hàng T1 dự định chiếm đoạt này thì đều đã được Công ty G giao thành công đến cho người nhận và đã chuyển tiền thu hộ cho tài khoản “Kho Thực Phẩm Sức Khỏe” đối với 04 đơn hàng, Công ty G còn giữ lại tiền thu hộ 01 đơn hàng. T1 đã chiếm đoạt được 04/05 đơn hàng đã đánh tráo với tổng số tiền hàng là 9.450.000 đồng.
Công ty G đã chuyển tổng số tiền thu hộ là 57.150.000 đồng vào tài khoản V số [...] tên Nguyễn Thị Thảo L2 (tương đương với 27 đơn hàng được giao thành công) và hoàn hàng thành công 02 đơn hàng với tổng số tiền hàng là 3.430.000 đồng về cho tài khoản “Kho thực phẩm sức khỏe” dẫn đến bị chiếm đoạt tổng số tiền hàng là 60.580.000 đồng.
Nguyễn Văn T1 đã dùng tài khoản T2 số 19036136266018 tên Nguyễn Văn T1 chuyển khoản tiền công cho bị can T số tiền 8.000.000 đồng vào ngày 06/11/2023 vào tài khoản B1 số 7101991810 tên Nguyễn Phương T và số tiền 3.000.000 đồng vào ngày 20/11/2023 vào tài khoản T2 số 2811018888 tên Nguyễn Phương T. T thu lợi bất chính 11.000.000 đồng.
Nguyễn Văn T1 đã dùng tài khoản T2 số 19036136266018 tên Nguyễn Văn T1 chuyển khoản tiền công cho bị can P1 vào tài khoản T2 số 68686812345678 tên Lê Thanh P1, gồm 5.000.000 đồng vào ngày 06/11/2023 và 13.000.000 đồng vào ngày 07/11/2023. P1 đã thu lợi bất chính 18.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Nguyễn Phương T và Lê Thanh P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 8Z màu vàng, số Imei: 868062060441855, là điện thoại T dùng để liên lạc với T1.
- - Số tiền 30.000.000 đồng, trong đó số tiền 11.000.000 đồng là số tiền T tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả; số tiền 19.000.000 đồng là số tiền P1 tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả.
- - 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 50N2-42342, số khung: RLHJK0357PZ100110, số máy: JK03E7800169, là xe gắn máy T dùng để tham ô tài sản. Qua xác minh xe gắn máy trên do ông Ngô Văn P3, thường trú: 1 N, phường T, quận B đứng tên chủ sở hữu. Ông P3 trình bày xe gắn máy trên ông mua vào tháng 04/2023 và đứng tên chủ sở hữu. Tháng 10/2023, ông P3 cho Nguyễn Phương T mượn để sử dụng đi. Việc bị can T sử dụng xe gắn máy để phạm tội thì ông P3 không biết.
Các vật chứng hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 244/PNK ngày 10/10/2024, số 06/PNK ngày 13/12/2024 và số 281/PNK ngày 15/11/2024 của Công an quận T (Bút lục 318, 320, 322).
Về phần dân sự: Công ty G yêu cầu các bị can bồi thường số tiền 60.580.000 đồng. T tự nguyện giao nộp số tiền 11.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. P1 tự nguyện giao nộp số tiền 19.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Số tiền còn lại các bị can chưa bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số: 81/CT-VKSQTP ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Phương T về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Lê Thanh P1 về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 353, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương T từ 03 năm đến 04 năm tù.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh P1 từ 08 năm đến 09 năm tù.
Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phương T và Lê Thanh P1 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Đánh giá hành vi của các bị cáo:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Ngày 04/11/2024, tại địa chỉ B T, phường S, quận T (Bưu cục số 146), Nguyễn Phương T đã giúp sức cho Nguyễn Văn T1 là quản lý khu của Công ty G trên địa bàn quận T, chiếm đoạt tiền 16 đơn hàng của Công ty G với số tiền là 32.230.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 11.000.000 đồng.
Từ ngày 04/11/2024 đến ngày 05/11/2024 tại địa chỉ B T, phường S, quận T, Lê Thanh P1 cũng đã 02 lần giúp sức cho Nguyễn Văn T1 chiếm đoạt tiền 25 đơn hàng của Công ty G với số tiền hàng là 51.130.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 18.000.000 đồng.
Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo Nguyễn Phương T về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 và truy tố bị cáo Lê Thanh P1 về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và tài sản của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý không tốt trong xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để giáo dục các bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này cả hai bị cáo đều là người giúp sức tích cực cho đối tượng Nguyễn Văn T1. Do đó hình phạt đối với hai bị cáo là phải nghiêm khắc.
Đối với Nguyễn Văn T1 và Hoàng Tấn N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định truy nã, Quyết định tách vụ án. Khi nào làm bắt được sẽ xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
Đối với Nguyễn Thị Thảo L2, quá trình điều tra L2 trình bày được Nguyễn Văn T1 yêu cầu cho mượn tài khoản ngân hàng để nhận tiền thu hộ (COD) từ Công ty G rồi chuyển khoản lại cho T1. Do chưa làm việc được với T1 nên chưa đủ cơ sở xử lý đối với L2 về hành vi “Tham ô tài sản”. Khi nào bắt được T1 thì sẽ xử lý hành vi của L2 sau. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Công ty Giao Hàng Nhanh yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền là 60.580.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại do đó cần buộc các bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền là 60.580.000 đồng cho công ty G hàng nhanh, cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền là 30.290.000 đồng.
Bị cáo T tự nguyện giao nộp số tiền 11.000.000 đồng, do đó bị cáo T còn phải bồi thường cho công ty G số tiền là 19.290.000 đồng.
Bị cáo P1 tự nguyện giao nộp số tiền 19.000.000 đồng, do đó bị cáo T còn phải bồi thường cho công ty G số tiền là 11.290.000 đồng.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, còn phải bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Do đó miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 8Z màu vàng, số Imei: 868062060441855, là điện thoại T dùng để liên lạc với T1. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Số tiền 30.000.000 đồng, trong đó số tiền 11.000.000 đồng là số tiền T tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả; số tiền 19.000.000 đồng là số tiền P1 tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tiền các bị cáo nộp trả bồi thường cho bị hại do đó cần trả lại số tiền này cho bị hại công ty G.
- - 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 50N2-42342, số khung: RLHJK0357PZ100110, số máy: JK03E7800169, là xe gắn máy T sử dụng vào việc phạm tội. Qua xác minh xe gắn máy trên do ông Ngô Văn P3, thường trú: 1 N, phường T, quận B đứng tên chủ sở hữu. Ông P3 trình bày xe gắn máy trên ông mua vào tháng 04/2023 và đứng tên chủ sở hữu. Tháng 10/2023, ông P3 cho Nguyễn Phương T mượn để sử dụng đi. Việc bị can T sử dụng xe gắn máy để phạm tội thì ông P3 không biết. Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho ông P3.
[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 964.500 (chín trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm) đồng.
Bị cáo P1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 564.500 (Năm trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ Điều 353 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương T và Lê Thanh P1 phạm tội “Tham ô tài sản".
[2] Áp dụng khoản 1 Điều 353, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương T 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2024
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Thanh P1 08 (tám) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2024
[3] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự
Buộc bị cáo Nguyễn Phương T bồi thường cho Công ty G hàng nhanh số tiền là 19.290.000 (mười chín triệu hai trăm chín mươi nghìn) đồng.
Buộc bị cáo Lê Thanh P1 bồi thường cho Công ty G hàng nhanh số tiền là 11.290.000 (mười một triệu hai trăm chín mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 8Z màu vàng, số I: 868062060441855
- - Trả lại cho Công ty G hàng nhanh: Số tiền 30.000.000 đồng.
- - Trả lại cho ông Ngô Văn P3: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 50N2-42342, số khung: RLHJK0357PZ100110, số máy: JK03E7800169
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 244/PNK ngày 10/10/2024, số 06/PNK ngày 13/12/2024 và số 281/PNK ngày 15/11/2024 của Đội Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an quận T).
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 964.500 (chín trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm) đồng.
Bị cáo P1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 564.500 (Năm trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm) đồng.
[5] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Ngọc Phượng |
Bản án số 90/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự sơ thẩm (tham ô tài sản)
- Số bản án: 90/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
